Thứ Ba, 3 tháng 2, 2009

CHU DỊCH với DỰ ĐOÁN HỌC=Thiệu Vĩ Hoa (P9)

6. Tượng quẻ sinh, khắc làm chủ sự việc.
1) Quể có thể sinh
Thể sinh của quẻ Càn: chủ ở trong công môn thì có ích, hoặc trong công danh thì có hỉ, hoặc vì việc quan mà có của, hoặc vì kiện tụng mà thắng lý, hoặc được của quý, hoặc người già tiến tài, hoặc
có tin mừng thăng quan tiến chức.
Thể sinh của quẻ Khôn: chủ về việc được lợi của điền thổ, hoặc nhờ đièn thổ mà tiến tài, hoặc được lợi cho người thân hoặc làm lợi cho người chết, hoặc có lợi về lương thực, hoặc có tin về vải vóc.
Thể sinh của quẻ Chân: chủ về việc được lợi về sơn lâm, hoặc nhờ sơn lâm mà được của, hoặc được của phía đông, hoặc nhờ hoạt động mà có tin mừng, hoặc được lợi trong việc giao dịch đồ gỗ, hoặc vui mừng nhờ gặp được người trong tên họ có chữ thảo, mộc.


Thể sinh của quẻ Tốn: chủ về sự có ích cho sơn lâm hoặc nhờ sơn lâm mà được tài, hoặc được
của ở phía đông nam, hoặc có lợi nhờ người làm thảo mộc, hoặc có lợi về trà, hoa quả, hoặc những tin mừng do trà, rau quả.. đưa đến.
Thể sinh của quẻ Khảm: có tin mừng từ phương bắc, hoặc được của từ phương bắc, hoặc tiến tài nhời người ở gần chỗ có nước, hoặc được lợi nhờ giao dịch về việc : văn thư, hàng rượi, cá, muối hoặc được tặng: cá, muối, rượi.
Thể sinh của quẻ Ly: chủ về việc được của ở phương nam, hoặc tin mừng về văn thư, hoặc có
lợi nhờ các lò nầu luyện, hoặc nhờ người trong tên họ có chữ Hỏa mà được của.
Thể sinh của quẻ Cấn: dược của về phía Đông bắc, hoặc có tin mừng về ruộng vườn trên núi, hoặc được của nhờ sơn lâm điền thổ, hoặc được của nhờ người tên có chữ thổ, của cái ổn định, việc có đầu có đuôi.
Thể sinh của quẻ Đoài: có của ở phương tây, hoặc có tin mừng hoặc có nguồn lợi của quý về hàng thực phẩm, là người có giọng hay, hoặc niềm vui giữa chủ và khách, hoặc niềm vui trong bè bạn

2) Quẻ có thể khắc:

+ Thể khắc của quẻ Càn: chủ về nỗi lo âu việc công, việc gia đình, hoặc mất của quý, hoặc tổn thất về vàng bạc, lương thực, hoặc tức giận vì bị xúc phạm, hoặc bị phạm tội với quý nhân.
+ Thể khắc của quẻ Khôn: chủ về những nỗi lo điền thổ, hoặc ruộng vườn mất mát, hoặc bị tiểu nhân làm hại, hoặc người chết bị xâm phạm, hoặc mất vải vóc, lương thực.

+ Thể khắc của quẻ Chấn: chủ về những việc kinh hoàng chấn động, thường lo sợ nhiều, hoặc trong lòng không thể yên tĩnh, hoặc nhà cửa bị tai họa, hoặc bị người tên họ có chữ Mộc xâm phạm, hoặc mất mát về sơn lâm.


+ Thể khắc của quẻ Tốn: có thể bị người tên họ có chữ thảo, mộc làm hại, hoặc lo lắng về việc sơn lâm, hoặc mưu sự với người ở đông nam, đề phòng bì chồng làm hại (nữ), cãi vã nhau.
+ Thể khắc của quẻ Khảm: chủ về những việc ngầm có hại hoặc lo về trộm cướp, hoặc làm mất lòng người ở gần nước, hoặc gặp điều có hại ở quán rượu, hoặc bị người phương bắc gây tai ương.
+ Thể khắc của quẻ Ly: chủ những nỗi lo về văn thư, hoặc nỗi lo về hỏa hoạn, hoặc có những mối lo ở phương nam, hoặc bị hại do lửa hay người khác.
+ Thể khắc của quẻ Cấn: hay gặp sự việc ngược lại, việc gì cũng trắc trở, hoặc có sự mất mát
về sơn lâm điền thổ, hoặc người tên họ có chữ thổ xâm phạm, đề phòng những tai họa do người ở phía đông bắc gây ra, hoặc do mồ mả không yên ổn.
+ Thể khắc của quẻ Đoài: không gặp lợi về phương tây, bị chia rẽ nhau do cãi vã, hoặc bị người
trong tên họ mang chữ khẩu lừa dối, hoặc gặp tai họa bị huỷ nát, hoặc do ăn uống mà sinh lo.


IV. VÍ DỤ CỔ

Những ví dụ vận dụng bát quái để đoán tin tức ngày xưa còn ghi lại rất nhiều, nó không những
là tư liệu thông tin quý báu mà cũng là những điều khó tìm thấy trong sử liệu. Từ những tư liệu ghi chép để lại, chúng ta có thể thấy rõ, người xưa khi giải quẻ: có người dùng quẻ từ để định cát hung;
có người căn cứ tượng quẻ định cát hung; có người lại dựa theo lý của quẻ để, định cát hung, có người
lấy từ hào của quẻ biến để định cát hung, có người còn dùng những lời văn chứa trong hai quẻ để định
cát hung; lại có người kết hợp tình hình thực tế để định cát hung.
Kinh phòng đời Hán dùng phương pháp lấy dụng thần, theo ngũ hành sinh khắc để định cát hung. Thiệu Khang Tiết đời Tống theo tượng quẻ ngũ hành sinh khắc để định cát hung. Qua những điều đã nói ở trên, ta thấy, do sự cải tiến phương pháp gieo quẻ, phương pháp đoán quẻ cũng cải tiến
theo. Đó là nhờ xã hội không ngừng phát triển, khoa học kỹ thuật không ngừng tiến bộ, năng lực tư
duy của con người không ngừng nâng cao mà đạt được.
Những sử sách ghi lại về mặt chiêm bốc ở nước ta rất nhiều, như: "Tả truyện", "Chu ngữ", "An
hư khế tiền biên", "Chu dịch tập văn phủ phệ tôn".... Đối vớinhững ví dụ quý báu và thực tế lịch sử này, các học giả xưa nay đều rất coi trọng nghiên cứu nó và đều rất ngạc nhiên về sự lin nghiệm của
các quẻ đó. Như ngài lý Kính Trì, nhà dịch học của Trung Quốc trong tác phẩm "Chu dịch thám nguyên" của mình có nói: dòng quan bốc ở thời đại Xuân Thu, đoán rất ứng nghiệm, lẽ nào họ cứ mở miệng là nói, rồi gặp may mà đúng. Thực tế không phải như thế, mà chính là vận dụng đúng". Bát quái trước đầy đã đoán đúng, bây giờ chắc chắn vẫn đoán đúng, này xưa có thể dùng, thì ngày nay vẫn có giá trị ứng dụng. Để giúp mọi người hiểu được tri thức về mặt đoán quẻ, dưới đây xin giới
thiệu một ví dụ cổ để mọi người nghiên cứu.
1) "Quốc ngữ, Chu ngữ": Tấn Thành Công lưu vong ở Chu. Khi Thành Công từ
Chu trở về Tấn, người Tấn đã bói xem lành dữ ra sao. Được quẻ "phủ" của quẻ
"càn" . Vì từ quẻ của quẻ "càn" là: "nguyên, hanh, lợi, trinh", từ quẻ của quẻ phủ là: "phủ vân phỉ nhân, bất lợi quân tử trinh, đại vãng, tiểu lai". Cho nên người Tấn theo tượng quẻ của hai quẻ "phủ" và "càn" đoán là : tương xưng nhưng việc bất thành, lại phải ra khỏi chỗ đó.
Càn là trời là quân, càn của quẻ thượng là trời, càn của quẻ hạ là vua, tức là tượng của vua phối với trời, đất là cát. Nhưng quẻ hạ của càn là từ càn thành khôn, tức là quân biến thành thần, nên "phối mà không kết quả". Ba hào dương của quẻ hạ biến thành ba hào âm, nên vua phải 3 lần xuất.
2) "Quốc ngữ, Tấn ngữ": Trọng Nhĩ (Tấn Văn Công) muốn về nước làm vua, tự mình dùng Chu
dịch bói một quẻ, được quẻ "truân" của quẻ "dự". Từ quẻ của quẻ truân là "nguyên hanh lợi trinh,
vật dụng, hữu du vãng, lợi kiến hầu". Từ quẻ của quẻ là: "lợi kiến hầu hành sư". Thấy đoán quẻ nói: "không tốt. "Bế nhi bất thông". Nguyên nhân là vì quẻ "truân" có chấn ở phía dưới khảm, khảm là
xe, chấn là đường nứt, đó là tượng đi không thông. Còn Tư Không Quý Tử lại nói là cát. Vì sao vậy?
Vì trong "Chu dịch" nói : "lợi kiến hầu" là "việc được nước". Nên ông ta cho Trọng Nhĩ được làm vua. Lịch sử chứng minh là ông ta đúng.
3) "Tả truyện, Chiếu công nguyên niên": Vua nước Tấn mời thầy thuốc nước Tấn, Tần Bá Hầu
xem xong nói: "không thể chữa được vì gần nữ, bệnh nhiều". Triệu Mạnh nói: "Sao lại là bệnh nhiều?" Tần Bá Hầu trả lời lại: "Vì chìm đắm trong dâm dục mà rối loạn, sinh bệnh... "Chu dịch" nói:
"nữ mê hoặc nam như gió xô cấy đổ". Đây là thầy thuốc dùng quẻ "cổ" để giải thích bệnh tật. Quẻ "Cổ" là cấn, là thiếu nam, tốn là trưởng nữ, là tượng nữ mê hoặc nam. Cấn là sơn, tốn là phong, là gió thổi cây trên rừng. Do đó đoán bệnh của Tấn Hầu là do quan hệ nam nữ gây ra. Để chứng minh lời thầy thuốc đúng, ta hãy dùng sáu hào để xem bệnh ra sao.

QUẺ "CỔ" LỤC THẦN
Huynh đệ dần mộc...ứng Phi xà
Phụ mẫu tý thủy... Câu trần
Thê tài tuất thổ.... Chu tước Quan quỷ dậu kim.thế Thanh long Thê tài hợi thủy. Huyền vũ Thê tài sửu thổ... Bạch hổ

Trong quẻ dậu kim là mình, tuất thổ, sửu thổ là vợ, đều tương hợp với dậu kim, một nam hai nữ. Thanh long lại lâm quỷ, vì tham sắc quá độ, nên thầy thuốc dùng quẻ "cổ" để đoán bệnh cho Tấn Hầu là đúng.
4) Trong thí dụ trước "Tả truyện", Tương Công năm thứ 9":
Mẹ của Lỗ Thành Công là Mục Khương và quan đại phu Kiều Như thông gian mưu cướp ngôi
Thành Công là nói về quẻ ứng nghiệm âm dương không được ngôi.
Bấy giờ ta hãy lấy tượng quẻ để bàn: cấn là sơn, là thổ, là tượng đất động, nên chạy thoát không
được, đó là lẽ thứ nhất, thứ hai là trong một quẻ, năm hào đều động, hào đọng nhiều thì bản thân chủ
sự không lợi, thứ ba là: quẻ ngoại "tuỳ" là đoài kim, là quẻ dụng, quẻ nội là chấn mộc, là quẻ thể.
Quẻ dụng khắc quẻ thể nên hung.
5) Trong "Luận hàng, bốc phê biên" ghi: Nước Lỗ đánh nước Việt, Khổng Tử cho là cát, vì ông đoán theo lời từ của hào cửu tứ quẻ "Đỉnh". Theo quẻ này mà nói: trong quẻ "đỉnh", quẻ cấn là quẻ dụng, quẻ tốn là quẻ thể, thể sinh dụng, có tổn thất nhưng biến thành quẻ "cổ", cấn thổ là quẻ dụng, tốn mộc là quẻ thể, là thể khắc dụng, là Lỗ thắng. Qua đó ta thấy rõ quái thuật của Khổng Tử thật là cáo siêu.



V. THÍ DỤ NGÀY NAY


Trong quá trình dùng bát quái để dự đoán thông tin, tôi đã tích luỹ được một số thí dụ thực tế.
Nay xin giới thiệu một số trong đó để cung cấp cho học viên tham khảo.

1. Đoàn người đi xa

1) Giờ thân ngày 19 tháng 10 năm 1983, ông Mạnh nhà máy tôi nói vợ ông đi đã hơn một tháng nay bặt vô âm tín, nhờ đoán xem có rắc rối gì không và khi nào về.




Gieo được quẻ lý . Tôi nó với ông Mạnh: "Vợ ông đi về phía tây nam, có gặp duyên cãi
vã, nhưng không can gì. Nếu từ nay đến ngày thứ năm không về thì sẽ có thư, sẽ về".
Hai giờ chiều ngày thứ năm ông Mạnh lại đến tìm tôi nói vợ chưa về, mà thư cũng không thấy.
Tôi nói đừng nôn nóng, chờ cho hết ngày xem. Khoảng ba giờ chiều hôm đó ông nhận được điện báo
của vợ từ Thành đô gửi về, báo ngày mai ra ga đón. Vợ ông Mạnh về nói, vì có chuyện cãi nhau nên
về muộn một ngày.
Giải: Tây nam: Quẻ dụng là đoài, đoài là tây, trong quẻ hỗ có ly, ly là nam, nên tây nam. Gặp chuyện cãi cọ: đoài là cãi vã. Bình yên: quẻ nganh hòa. Năm này : càn một, đoài hai, quẻ đọng (2 : 1)
+2 + 2 = 5. Có tin thư: ly là điện, có nghĩa là "tin".
2) Tháng 4 năm 1987, tôi ở Bắc Kinh đang giảng bài cho lớp nghiên cứu "Kinh dịch" đợt thứ tư
của toàn quốc. Giữa giờ giải lao chiều ngày 13 tháng 4, học viên Trương Lập Mẫn nói: "Thầy Thiệu,
tôi có một người bạn muốn đi công tác, nhờ thấy



xem khi nào có thể đi được?" Được quẻ Cấn . Tôi nói với chị ấy: "Trong bảy ngày rưỡi tới vẫn chưa đi được". Cô ấy nói "Đúng! Ong ấy chuẩn bị ngày 20 mới đi". Mọi người có mặt tại đó đều kinh ngạc.
Giải : Cấn là sơn, là thổ, là đình chỉ, là tượng bất động. Cấn là 7, hào đầu là 1 (7 + 7 +1) : 2 =
7,5 nên trong bảy ngày rưỡi chưa đi được.

2. Đoán mất của

1) Ngày 30 tháng 12 năm 1983, ngài Nhiên Đức Điền mất chiếc xe đạp ngoài chợ,





đến hỏi xem có thể tìm lại được không? Gieo được quẻ "Khảm"
. Căn cứ tượng quẻ, rất
có khả năng là người khắc cưỡi nhầm xe. Tôi nói: "Xe không mất đâu. Trước 9h tối nay sẽ tìm được".

Ong ta nghĩ, năm hết tết đến rồi, bảo vệ thì đã nghỉ phép, kẻ cắp đã lấy mất xe còn ai giúp tìm được nữa. Kết quả trước 9h tối, có người lấy nhầm xe đến trả.
Giải : Khảm là tàu, là xe. Hai khảm trùng nhau là tượng hai xe giống nhau. Nên có sự nhầm, không mất được. Quẻ gặp nganh hòa là không mất. Tối trước 9h là vì: khảm 6, động 2, tức (6 + 6 + 2)
: 2 = 7 là từ hai giờ chiều đến 9 giờ tối.
2) Giờ mão ngày 10/11/1987 ông Vương Song Ngân nói xe đạp dựng trước cửa bị mất cắp. Hỏi có thể tìm lại được không? Gieo được quẻ "Cấu"
thể nên nói không tìm được. Quả là đến nay vẫn mất.
. Vì quẻ dụng khắc quẻ
Giải : Quẻ dụng là càn kim, quẻ thế là tốn mộc nên "dụng khắc thể, vật bị mất".
3. Đoán bệnh tật

1) Giờ Hợi tháng 7/1984 cô Phạm hỏi mẹ cô bị bệnh gì, lành hay dữ. Đượ quẻ




"Cấu" . Tôi nói với cô ta: "Bệnh ở vùng bụng, khó qua được tháng 8". Về sau đúng là
do khối u tử cung nên mất vào tháng 8.
Giải : Tốn là mộc là quẻ thể, là bệnh nên bệnh ở vùng bụng; càn là quẻ dụng là kim, dim vượng
ở nguyệt kiến. Mộc ở tử địa còn bị khắc, kim vượng ở tháng 7, tháng 8, nên chết vào tháng 8.
2) Ngày 29/10/1987 Lưu Cúc Hương đến nói: mẹ cô ấy tuổi đã cao, gần đây lại bị bệnh nặng.
Cụ nói gay go lắm rồi, muốn con cháu rửa chân cho để đi, mấy chị em nghe xong rất lo lắng. Xin nhờ đoán xem sao. Được quẻ "càn" . Tôi xem tượng quẻ ong, nói: "Đừng lo, không những không chết mà hôm sau nữa sẽ khỏi". Quả không sai, sáng ngày thìn bệnh đỡ, còn xuống giường được, tối ăn được bát mì.
Giải : Quẻ "nganh hoà là có tin vui bất ngờ". Đây ứng quẻ lục xung "Mới bị bệnh mà gặp xung
thì khỏi, lại còn "càn" cửu tam nhật... vạn, vô cữu". Vô cữu là không nguy hiểm.
4. Đoán về bị thương, bị tai nạn

1) Quẻ xem cành mai: "Giờ thân ngày 17 tháng 12 năm thìn, ngài Thiệu Khang Tiết tình cờ ngắm cành mai thấy có hai con chim vì tranh nhau mà rơi xuống đất. Ngài gieo được quẻ "hàm" của quẻ "cách" . Xem quẻ hỗ càn và tốn xong, đoán tối mai sẽ có cô gái bẻ hoa. Vì có người đuổi nên hoảng hốt ngã xuống đất, bị thương ở đùi nhưng không đến nổi nguy hiểm. Về sau quả có việc ấy xảy ra.
Giải : Đoài là kim là thể, ly là hỏa là dụng khắc đoài, quẻ hỗ là tốn mộc sinh ly hỏa, khắc khí thịnh của quẻ thể. Đoài là thiếu nữ, nên biết là có cô gái bị thượng. Trong quẻ hỗ càn là kim là người già, tốn là đùi nên do cụ già đuổi mà cô gái ngã bị thương ở đùi. Nhưng may có ly biến thành cấn thổ sinh đoài kim nên không đến nổi nguy hiểm.
2) Cô Lô Tần ở Đài truyền hình Thiểm Tây là người mà tôi quen trong buổi gặp Đoàn đại biểu Nhật Bản ngày 13 tháng 12 năm 1986. Hôm đó cô ấy nhờ tôi đoán vận
hạn, được quẻ "tốn" của quẻ "khôn" , và căn cứ tứ trụ của cô nhiều thổ nên tôi nói: năm 1987 cô có nạn nát thân, thời gian ở nữa đầu năm, đặc biệt là tháng 3 tháng 4 (âm lịch là tháng 3) không được đi về phương tây bắc, nếu không thì hậu quả khôn lường. Về sau tháng 3/1987 cô ấy đi công tác phía tây bắc, bị tai nạn ô tô chết không cứu được.
Giải : Quẻ khôn là thổ, hóa tốn mộc khắc trở lại là chỉ về việc xấu. Lời từ của hào thế sáu trên của quẻ khôn nói: "... huyết huyền hoàng" tức máu chảy nhiều, điềm xấu. Hào thế dậu kim lại lâm mão nhật là nhật phá, lại hóa thành mão mộc, do đó năm 1987 có nạn nát thân. Căn cứ tứ trụ thổ nhiều mà tháng 3 lại là tháng thổ vượng, đi tây bắc là cớ để thìn tuất tương xung nên dọc đường bị tai nạn xe mà chết.
3) Ngày 17/3/1986 ông Mã nhà máy tôi nhờ đoán vận hạn, được quẻ "tùy" của
quẻ "vô vọng" . Tôi nói: "Tháng 9 năm nay ông phải đề phòng tai nạn, đặc biệt chú ý đề phòng
bị thương". Kết quả tháng 9 do cưỡi xe máy bị lật, bị thương nặng đi nằm viện.
Giải : Quẻ "vô vọng" có nghĩa là phải cẩn thận, nếu manh động xẽ có hại. Ví dụ: "hào chín trên
là không nên đi xa, không có lợi". Ong Mã sau khi mua được xe mới, do phấn khởi, hăng đi mà bị thương. Thứ hái là quẻ chủ và quẻ biến đều là quẻ dụng kim khắc quẻ thể chấn mộc. Tháng 9 là tháng kim vượng mộc suy. Thứ ba là theo sáu hào trong quẻ quỷ hóa quỷ huynh hóa huynh nên tất bị thượng. Hơn nữa ngọ hỏa trì thế, hỏa mộ ở tuất nên tháng 9 có chuyện bị thượng.
Dùng bát quái để dự đoán về bị thương, thứ nhất phải xem những quẻ trong "chu dịch" bàn bề
bị thương như quẻ "quái" "hàm", "phong", "Trắng", "minh di". Ví dụ quẻ "minh di" nói: di là bị thương vậy. Hào chín ba của quẻ "phong" nói:... Gãy đùi phải, vô cữu. Thứ hai là xem có quẻ dụng khắc quẻ thể khong và quẻ hóa thành khắc ngược lại không. Thứ ba là xem trong sáu hào trên có quỷ hóa quỷ, quỷ hóa huynh, huynh hóa huynh, huynh hóa quỷ thì đều bị thương chân tay. Trong dự đoán
tai nạn bị thương tôi đều lấy sáu hào làm chủ.
Dùng bát quái để đoán tin tức phạm vi rất rọng, dùng 6 hào để đoán sự việc rất chi tiết và cụ thể. Ví dụ: đoán về thiên tai thì 6 hào nói rất rộng. Vấn đề này trong bài luận văn "Bát quái và tin tức" báo cáo ở Hội thảo học thuật chu dịch quốc tế tháng 1/87 tôi đã đưa ra 10 ví dụ. Trong đó có ví
dụ về đoán thiên tai, 6 hào được sắp xếp như sau:
9giờ 30' sáng ngày 19 tháng 12 năm 1986, phía đông nam thành phố Tây An xuất hiện 5 mặt trời. Lúc đó đoán được quẻ "Khôn" của quẻ "Sư" .

QUẺ CHỦ "SƯ" QUẺ BIẾN "KHÔN" LỤC THẦN


Phụ mẫu dậu kim Tử tôn dậu kim thế Thanh long
Huynh đệ hợi thuỷ Thê tài hợi thủy Huyền vũ
Quan quỷ sửu thổ Huynh đệ sửu thổ Bạch hổ Thê tài ngọ hỏa Quan quỷ mão mộc ,ứng Phi xà Quan quỷ thìn thổ Phụ mẫu tỵ hỏa. Câu trần
Tử tôn dần mộc Huynh đệ mùi thổ Chu tước

Lúc đó tôi căn cứ vào tượng quẻ và tượng hào đoán: Năm 1987 Trung Quốc có những tai nạn như sau:
1) Quẻ sư: "Dị nhất dương thống ngũ âm, hữu đại tướng soái sư chi tượng" ("Chu dịch tiên thuật") (1 hào dương thống lĩnh 5 hào âm, đố là tượng của tướng soái). Hơn nữa quẻ soái lại chủ về việc chiến tranh. Do đó năm 1987, Trung Quốc sẽ có nạn tranh giành đất đai. Khôn là tây nam, bên ngoài biên giới, ở tây nam còn có cuộc chiến tranh mới. Đúng là năm đó Trung Quốc đánh Việt Nam,
nội bộ An Độ cũng có chiến tranh.
2) Hào 5 là huynh đệ hợi thuỷ. Huynh là thần của kiếp tài, nên năm 1987 có nạn tổn hao của cải, thời gian vào khoảng tháng 4, tháng 5. Đúng năm đó cháy rừng ở phía đông bắc.
3) Hào hai là quan quỷ là năm có nhiều nạn. Nên năm 1987 Trung Quốc có rất nhiều thiên tai
và nhiều tai nạn thiên nhiên khác.
4) Huyền vũ lâm thê tài, năm 1987 tội phạm hình sự tăng lên mà không giảm, đặc biệt nạn cướp giật rất điên cuồng.
5) 5 mặt trời là hỏa trên dương khí quá thịnh, theo thời tiết mà nói e rằng năm nay hạn rất nặng. Quả đúng năm ấy diện tích bị hạn hán rất rộng.
6) Quẻ sư biến thành quẻ khôn lại trùng lập. Khôn là âm, là tiểu nhân, nên 1987 xảy ra việc bạo
loạn ở phương tây nam hoặc có những sự kiện khác gây ra đổ máu. Về sau quả nhiên ngày 2, 3 tháng
10/1987 vùng dân tộc thiểu số Tây tạng xảy ra bạo loạn đòi tách ra khỏi Trung Quốc. Máy bay rơi ở
Trung Khánh. Ơ Quý Chấu tàu hỏa bị lật.
Về việc máy bay bị rơi và tàu hỏa bị lật trong quẻ "sư" đã có dấu hiêu. Trọng




quẻ "sư"( ) biến thành quẻ phục ( ). Khôn là dự, là xe, là thổ, là quẻ thể; chấn là mộc, là
quẻ dụng nên mộc khắc khôn thổ, do đó có chuyện xe lật. Chấn là long là bay lên trời nên có tượng
của phi (bay). Nay quẻ khôn là thổ lại ở trên, quẻ chấn là mộc ở dưới. Nên có tai nạn máy bay rơi xuống đất. Cho nên các sự kiện ở Tây tạng, máy bay rơi, tàu hỏa lật là những sự kiện lớn, không
những đổ máu chết người mà còn liên quan đến các việc kiện tụng.


VI. 18 VIỆC THƯỜNG DỰ ĐOÁN


Phạm vi dự đoán thông tin rất rọng, không thể nó rõ cách giải với từng ví dụ một. Vì vậy, tôi
khái quát kinh nghiệm thực tiễn của người xưa vào thành 18 mục dưới đây để bạn đọc tham khảo.



1. Thời tiết

phàm đoán thời tiết, thì không cần chú ý quẻ thể, quẻ dụng, mà phải quan sát tất cả các quẻ, và liên hệ suy đoán với ngũ hành. Quẻ "ly" phần nhiều chủ về trời nắng, quẻ khảm chủ về mưa, quẻ Khôn là u ám, quẻ càn chủ về trời sáng, quẻ chấn chủ về sấm mùa xuân, mùa hạ, quẻ Tốn về gió mạnh của bốn mùa. Quẻ Cấn thì mưa lâu tất pải tạnh, quẻ Đoài không mưa trời cũng âm u. Mùa hạ được quẻ Ly mà không có quẻ khảm thì sinh hạn hán kéo dài. Mùa đông được quẻ khảm mà không có
ly thì mưa tuyết liên miên.
Lúc xem các quẻ còn phải chú ý quẻ "hỗ", quẻ "biến". Ngũ hành gọi quẻ Ly thuộc hỏa - chủ
về nắng; quẻ Khảm là thủy chủ về mưa; quẻ khôn là khí đất chủ về u ám; quẻ Càn là chủ về trong sáng; Chấn là sấm, Tốn là gió. Mùa thu mùa đông Chấn nhiều không chế ngự được thì sẽ có sấm khác thượng. Có tốn thêm vào thì sấm to gió lớn. Cấn là núi, la mây, nếu mưa lâu mà gặp quẻ Cấn thì mưa sẽ ngừng. Cấn chính là "đình chỉ", cũng có nghĩa là thổ khắc thủy. Đoài là trạch, nếu không mưa
thì cũng âm u. Để đoán được các hiện tượng trong vũ trụ là rất khó, song sự thần diệu của các quẻ cũng rất đáng tin cậy. Lấy càn tượng trưng cho trời trong sáng trong các mùa. Chủ khôn là đất, khí ảm đạm. Nếu khôn và càn nganh nhau thì nắng mưa xen kẻ nhau biến đổi. Khôn và cấn hai quẻ nganh nhau thì u ám bất thường. Số quả có âm có dương, tượng quẻ có lẻ có chẵn, âm mưa, dương nắng, lẻ chẵn thì u ám. Khôn là cực của lão âm nên nắng lâu tất sẽ mưa, âm khí thì mưa lâu tất nắng. Nếu gặp quẻ trùng khảm hoặc trung ly, cũng sẽ là lúc mưa, lúc nắng. Khảm là thủy tất mưa, ly là hỏa tất nắng. Kim của càn đoài, mùa thu trời sáng, màu đông mưa dầm dề. Thổ của khôn đoài, mùa xuân thì mưa lầy, mùa hạ nóng ran. Kinh dịch nói: "mấy là từ rồng, gió từ hổ". Lại nói: "Cấn là mấy, tốn là gió,
cấn tốn trùng phùng thì gió mấy tụ tập làm cho cát bay đá chạy, mờ núi, mờ trời". Khảm ở trên cấn
thì trời đầy mây mù, khảmở trên đoài thì mù sương đọng thành tuyết. Càn đoài là sương tuyết tan. Ly
là hỏa là ánh cầu vồng. Chấn là sấm, ly là điện, nếu trong quẻ cùng gặp thì mưa dồn gió dập. Hai quẻ chấn chồng nhau thì sấm vang trăm dặm. Quẻ khảm chồng nhau thì mưa úng rất nhiều.
"Địa thiên thái", "thủy thiên thu" là tượng mung lung. "Thiên địa phủ", "thủy địa tỉ" là u ám.
Bát thuần ly mùa hè tất có hạn, bốn mùa trời trong. Bát thuần khảm, mùa đông tất rét, bốn mùa nhiều mưa. Mưa lâu không nắng, chỉ gặp cấn mới tạnh mưa. Nắng lâu không mưa, gặp cấn mới mưa. Nếu thủy hỏa ký tế hay hỏa thủy vị tế thì bốnmùa không đoán được gió mây. Gặp quẻ "phong trạch trung
phù", "trạch phong đại quá" thì mưa suốt mùa đông. Gặp quẻ "Thủy sơn kiển", "Sơn thuỷ mông" thì
đi trăm bước cũng phải che mưa. Gặp quẻ "Địa phong thăng", "Phong địa quan" thì bốn mùa không
thể đi thuyền (gió to). Quẻ ly trên cấn thì sớm nắng chiều mưa. Ly hỗ cấn cung thì sớm mưa chiều nắng. Tốn khảm hỗ ly thì cầu vồng xuất hiện. Tốn ly hỗ khảm thì trời đất như nhau. Muốn đoán bốn mùa thì không thể chỉ theo một nguyên tắc: chấn ly là điện sấm, ứng vào mùa hè. Càn đoài là sương tuyết ứng vào mùa đông. Lý của trời đất là như vậy. Sự kỳ diệu của lý số là vậy. Người biết được đến
thế là đáng kính lắm ru!
Đoán thời tiết phải xem quẻ chủ, quẻ hỗ, quẻ biến. Trong 3 quẻ ly nhièu là nắng, khảm nhiều mưa, tốn nhiều là gió. Nước Trung Quốc đất rọng bao la, trong 1 ngày có nhiều chỗ mưa, nhiều chỗ nắng, nên lấy 1 quẻ để đoán dự mưa nắng trong toàn quốc làkhông chuẩn. Do đó khi dự báo thời tiết trong thánh, ngày, năm phải thêm vào số nét của tên địa phương minh đoán làm quẻ "thượng", phải thêm giờ đoán làm quẻ "hạ". Địa danh phải viết đầy đủ nét (không được viết tắt) thì đoán mới đúng.
Ví dụ: Quảng Châu là số 20, Bắc Kinh là số 13. Như thế thì các địa phương khắc nhau mới được quẻ khác nhau, mới có thể đoán đúng cho địa phương đó.


2. Nhân sự

Khi đoán về nhân sự, phải xem kỹ quẻ thể và quẻ dụng. Quẻ thể là chủ, quẻ dụng là khách (chủ: là người đến xin quẻ, khách: là sự việc hoặc người muốn đoán). Quẻ dụng khắc quẻ thể thì không nên, quẻ thể khắc quẻ dụng thì mới tốt. Quẻ dụng sinh quẻ thể là có tin mừng, có ích; quẻ thể sinh quẻ dụng thì có mất mát. Quẻ thể và quẻ dụng ngang nhau thì việc có lợi, tốt. Càng phải xem kỹ quẻ "hỗ" và quẻ "biến" để đoán cát, hung. Phải xem kỹ sự thịnh suy để làm sáng tỏ hưu, cữu.
Quẻ về nhân sự thì phải xem toàn thể quẻ thể và quẻ dụng để quyết định mức độ tốt, xấu. Nếu quẻ có sinh thể thì xem bát quái ở chương trước quẻ sinh thể có chỗ nào tốt, lại xem quẻ khắc thể có chỗ nào xấu (tức xem quẻ khắc thể chương trước). Nếu quẻ không có sinh hoặc khắc thì đành căn cứ
vào quẻ gốc mà đoán.


3. Đoán nhà cửa

Phàm đoán về nhà cửa phải lấy quẻ thể làm chủ, quẻ dụng là nhà. Nếu thể khắc dụng thì nhà
cửa có nhiều điều tốt. Còn dụng khắc thể thì có nhiều điều xấu. Thể sinh dụng thì thất thoát nhiều, hoặc có nỗi lo đề phòng mất cướp. Nếu dụng sinh thể nhiều điều cơ ích hoặc có tin mừng, được có quà tặng. Nếu thể và dụng ngang nhau, thì nhà cửa yên ổn, nếu quẻ có sinh thể tức là phải xem nhân
sự ở chương trước đã nói để đoán quẻ.


4. Nhà ở ( mục này nói về việc làm nhà tốt hay xấy)ư


Phàm đoán về nhà lấy quẻ thể làm chủ, lấy quẻ dụng làm nhà. Thể khắc dụng thì nhà đó ở tốt.
Dụng khắc thể thì ở xấu. Thể sinh dụng thì tài sản bị kém sút dần. Dụng sinh thể nhà cửa hưng vượng dần. Thể dụng ngang nhau thì bình thường yên ổn.

5. Đoán hôn nhân


Đoán hôn nhâ lấy quẻ thể làm chủ, quẻ dụng làm việc hôn nhân. Dụng sinh thể: hôn nhân dễ
thành, được lợi nhờ hôn nhân. Thể sinh dụng: thì hôn nhân khó thành, hoặc vì hôn nhân mà thua thiệt. Thể khắc dụng: hôn nhân không thể thành, nếu thành sẽ có thiệt hại. Thể và dụng ngang nhau thì hôn nhân thuận lợi.
Đoán hôn nhân quẻ thể là nhà đến đoán, quẻ dụng là nhà kia. Quẻ thể vượng thì nhà đó mạnh. Quẻ dụng vượng thì nhà kia giàu có. Dụng sinh thể thì được của nhờ hôn nhân hoặc nhà kia môn đăng
hộ đối. Thể sinh dụng thì nhà kia nghèo hoặc mình phải chi của nhiều hơn. Nếu thể, dụng ngang nhau
thì cuộc hôn nhân đó được.
Quẻ càn: đoan chính và là trưởng nữ.
- Khảm: là người đa tình, đa đen, đố kỵ ghen tuông
- Cấn: là người sắc vàng, khéo léo.
- Chấn: là người đẹp.
Quẻ tốn: là người tóc thưa, xấu, tham lam.
- Ly: là người thấp, sắc đỏ, tính không bình thường.
- Khôn: dung nhan xấu, bụng to, sắc vàng.
- Đoài: là người cáo, da trắng, ăn nói vui tươi


6. Đoán về sinh đẻ.

Lấy quẻ thể làm mẹ, quẻ dụng làm việc sinh nở. Thể dụng đều nên thừa vượng, hoặc thừa suy, hoặc tương sinh, không nên tương khắc. Thể khắc dụng thì không lợi cho con, dụng khắ thể thì không
lợi cho mẹ. Thể khắc dụng mà quẻ dụng suy thì con dễ chết. Dụng khắc thể mà thể yếu thì mẹ khó toàn. Dụng sinh thể thì dễ dàng cho mẹ. Thể sinh dụng thì dễ cho việc sinh nở. Thể dụng ngang nhau
thì thì việc sinh nhanh và thuận lợi. Muốn đoán sinh trai hay gái thì xem quẻ chủ, quẻ dương hào dương nhiều thì sinh con trai; quẻ âm hào âm nhiều thì sinh con gái. Quẻ có hào âm và dương bằng nhau thì xem trong số người ngồi quanh đó, người đến bói là số chẵn hay số lẻ để đoán. Muốn đoán
ngày sinh thì xem số của quẻ dụng để đoán.


7. Đoán về ăn uống

Phàm đoán về ăn uống lấy quẻ thể làm chủ, quẻ dụng làm thức ăn. Dụng sinh thể thì thức ăn phong phú. Thể sinh dụng thì ăn uống có trắc trở. Dụng khắc thể thì không có chuyện ăn uống. Thể
và dụng ngang nhau thì thức ăn đầy đủ, phong phú. Trong quẻ có khảm là có rượu, có đoài là có thức
ăn. Không có khảm không có đoài thì cả hai thức đều không. Khảm, đoài sinh thân: rượu thít no say. Muốn biết ăn thức gì thì lấy việc ăn uống mà suy ra. Muốn biết trong bàn ăn có những ai thì căn cứ quẻ hỗ mà đoán.
An uống, có những người nào, có những loại gì thì trong bát quái đều đã nói rõ.

8. Đoán cầu mưu.

Khi đoán cầu mưu lấy quẻ thể làm chủ, quẻ dụng là việc định mưu cầu. Thể khắc dụng thì mưu
có thể thành, nhưng chậm. Dụng khắc thể thì mưu không thành, hoặc thành nhưng có hại. Dụng sinh
thể thì cầu mà không được. Thể sinh dụng thì mưu nhiều mà thành công ít. Thể dụng ngang nahu thì đạt được như ý.

9. Đoán cầu danh

Khi đoán cầu danh quẻ thể làm chủ, quẻ dụng là danh. Thể khắc dụng: danh có thể thành, nhưng chậm. Dụng khắc thể: danh không thành. thể sinh dụng: danh không thanh, hoặc nếu thành thì
bị tổn thất. Dụng sinh thể: danh dễ thành, hoặc có lợi nhờ danh. Thể, dụng ngang nhau: công danh như ý. Muốn biết ngày đạt được thì xem kỹ khí quẻ của sinh thể. Muốn biết nhậm chức ở đầu thì xem phương của quẻ "biến" mà đoán. Nếu quẻ không có khắc thể thì danh dễ thành, xem thời gian của quẻ thể để đoán ngày thành đạt. Nếu đoán về quẻ nhậm chức thì tối kỵ nhất là gặp phải quẻ khắc thể. Người có quẻ khắc thể thì do làm quan bị tai họa, nhẹ thì bị khiển trách, nặng thì bị mất chức.
Muốn biết ngày giờ của tai họa đó thì phải xem khí thể của khắc quẻ và kết hợp bát quái mà đoán.


10. Đoán cầu tài


Khi đoán cầu tài lấy quẻ thể làm chủ, quẻ dụng làm tài. Thể khắc dụng là được của; dụng khắc
thể là không được của. Thể sinh dụng thì có nỗi lo về hao tổn. Dụng sinh thể thì có tin mừng được lợi. Thể dụng ngang nhau thì tài lợi đều nhanh như ý. Muốn biết ngày được của phải xem khí quẻ sinh thể
để đoán. Muốn biết ngày mất của phải xem khí quẻ khắc thể để đoán.

Nếu trong quẻ có quẻ thể khắc quẻ dụng và quẻ sinh quẻ thể thì được của. Khí của quẻ này tức
là ngày được của. Nếu trong quẻ có quẻ khắc thể và quẻ thể sinh quẻ dụng tức là mất của, khí của quẻ này là ngày mất của.


11. Đoán giao dịch

Đoán giao dịch lấy quẻ thể làm chủ, quẻ dụng ứng vào việc giao dịch. Thể khắc dụng thì giao dịch được nhưng chậm. Dụng khắc thể thì việc không thành. Thể sinh dụng thì việc khó thành, nếu giao dịch được cũng bị hao tổn mất mát. Dụng sinh thể tức là thành, tức là nó của. Thể dụng ngang hoà nhau là việc giao dịch thuận lợi.

12 Đoan về xuất hành

Đoán xuất hành lấy quẻ thể làm chủ, quẻ dụng ứng về việc sắp đi. Thể khắc dụng: có thể đi và
kết quả như ý. Dụng khắc thể: đi ra gặp tai họa; thể sinh dụng: đi ra bị hao tổn mất mát. Dụng sinh thể: được của bất ngờ khi đi ra. Thể dụng ngang nhau: xuất hành nhanh, thuận lợi.
Phàm đoán xuất hành, quẻ thể nên thừa vượng, các quẻ nên sinh thể. Quẻ thể là càn là chấn thì chủ động; là khôn, cấn là bị động; tốn là đi thuyền; ly là đi đường bộ; khảm là đề phòng có sự thất thoát; quẻ đoài: có sự chia rẽ.

13. Đoán người đi xa

Đoán người đi xa lấy quẻ thể làm chủ, quẻ dụng chỉ người đi xa. Thể khắc dụng: người đi xa trở
về muộn; dụng khắc thể: người đi xa không trở về: thể sinh dụng: người đi xa chưa quay về; Dụng sinh thể: người đi xa sẽ về ngay; Thể dụng hoà nhau: ngày về chưa rõ. Lại lấy sự doanh vượng của người đi xa là quẻ dụng để đoán, nếu gặp sinh là người đi xa đang thuận lợi; gặp suy bị khắc là người
đi xa bị tai nạnh. Chấn nhiều thì không yên ổn. Cấn nhiều là trở ngại; Khảm nhiều có nguy hiểm;
Đoài là có va chạm chia rẽ.


14. Đoán về mong gặp ai đó


Đoán về mong gặp ai thì lấy quẻ thể làm chủ, quẻ dụng là người mình định gặp. Thể khắc dụng
là có thể gặp; Dụng khắc thể: là không thể gặp; Thể sinh dụng: khó gặp, gặp được cũng vô ích. Dụng sinh thể: có thể gặp, gặp là được. Thể dụng ngang nhau: gặp nhau vui vẻ.

15. Đoán về mất đồ vật

Đoán về mất của cải lấy thể làm chủ, dụng làm vật bị mất. Thể khắc dụng: có thể tìm nhưng thấy muộn; Dụng khắc thể: không thể tìm được; Thể sinh dụng: khó tìm lại được. Dụng sinh thể: vật
mất dễ tìm. Thể dụng nganh nhau: vật không mất.
Lại lấy quẻ "biến" làm vật bị mất. Nếu quẻ biến là : càn: tìm thấy ở phía tây bắc, hoặc ở nhà
vệ sinh công cộng, hoặc ở cấc lầu gác, hoặc ở bên cạnh các thứ kim loại, đá; hoặc ở trong những vật
hình tròn; hoặc ở những chỗ đất cáo. Quẻ biến là khôn: tìm thấy ở phương tây nam, hoặc nơi đồng
ruộng; hoặc chỗ nhà kho; hoặc chỗ đống rơm, đống rác; hoặc trong hang, trong hốc đất; hoặc trong
kho đồ đạc. Quẻ biến là chấn: tìm thấy ở phương đông, hoặc nơi rừng núi, nơi lau lách, hoặc bên cạnh quả chuông, cái trong; hoặc nơi chợ búa ồn ào; hoặc trên đường cái lớn. Quẻ biến là tốn: sẽ tìm thấy ở phương đông nam, hoặc nơi rừng núi, nơi chùa chiền, vườn rau, hoặc giữa các thuyền bè, hoặc trong
các thứ đồ bằng gỗ. Nếu quẻ biến là khảm: tìm thấy ở phương bắc, phần nhiều bên mép nước, hoặc
nơi khe giếng, mương rãnh, hoặc bên cạnh nơi có rượu, dấm; hoặc chỗ muối, cá. Quẻ biến là ly: tìm thấy ở phương Nam, hoặc: trong bếp, trong lò, cạnh lò, bên cửa sổ, nhà bỏ hoang, bên cạnh bàn giấy, hoặc chỗ có khói lửa. Quẻ biến là cấn: tìm thấy ở phương đông bắc, hoặc: trong rừng núi, hoặc bên đường, hoặc cạnh tảng đá, hoặc chông dưới đất. Quẻ biến là quẻ đoài: thì tìm thấy ở phương Tấy,
hoặc: ở trên bờ ao, hoặc ở nơi tường xiêu vách nát, hoặc ở giếng cũ hay áo đầm.


16. Đoán về bệnh tật

Đoán về bệnh tật lấy quẻ thể làm bệnh nhân, quẻ dụng là chứng bệnh. Quẻ thể nên vượng không nên suy. Quẻ thể nên phùng sinh, không nên thấy khắc. Quẻ dụng nên sinh thể, không nên khắc thể. Quẻ thể khắc dụng: bệnh dễ khỏi. Thể sinh dụng: bệnh khó khỏi; thể khắc dụng: không có
thuốc cũng khỏi; Dụng khắc thể: dù có thuốc cũng không khỏi. Nếu thể gặp khắc mà thừa vượng: thì không đáng lo. Thể gặp khắc mà càng suy: khó sống nổi. Muốn biết trong lúc nguy kịch có được cứu giúp hay không thì xem quẻ có sinh thể không? Thể sinh dụng: là bệnh kéo dài, khó khỏi; Dụng sinh thể: bệnh sẽ khỏi. Thể dụng ngang nhau: bệnh sẽ qua khỏi. Nếu ở thời kỳ bệnh đang bình thường thì xem quẻ có sinh thể không để đoán; nếu bệnh ở thời kỳ nguy kịch thì xem bệnh có khắc thể không để đoán. Muốn xem bệnh đó nên uông thuốc gì thì phải xem quẻ có sinh không. Ví dụ gặp quẻ ly sinh
thể thì nên uống thuốc nhiệt, gặp quẻ khảm sinh thể thì nên uống thuốc hàn; gặp quẻ cần thì uống thuốc ôn bổ; gặp quẻ càn, đoài nên uống thuốc mát.

17. Đoán về kiện tụng

Lấy quẻ thể làm chủ, quẻ dụng là đối phương
Quẻ thể nên vượng, quẻ dụng nên suy. Thể nên được dụng sinh, không nên thể sinh dụng, dụng nên sinh thể, không nên khắc thể. Thể khắc dụng: mình thắng đối phương; dụng khắc thể: đối phương thắng mình. Thể sinh dụng: mình bị đuối lý hoặc bị quan toà không đồng tình. Dụng sinh thể: mình thắng lý hoặc được kiện. Thể dung ngang nhau: thì có lợi nhất, không cần có sự hỗ trợ mà vẫn được
giải hòa.

18. Đoán về mồ mả


Lấy quẻ thể làm chủ, quẻ dụng làm mồ mả. Thể khắc dụng: là mộ tốt; dụng khăc thể: mộ
không tốt. Thể sinh dụng: là xấu. Dụng sinh thể: thì chủ tang sẽ hưng vượng dần, được hưởng ân phúc.
Thể dụng ngang nhau: là được nơi đất tốt, nên an táng ở đó, sẽ gặp lành.

Trong cuộc sống hành ngày, việc đoán rất nhiều, ở đấy không thể kể hết. Muốn hiểu rõ mục này mời xem thêm "Mai hoa dịch số".

Phần hai
PHƯƠNG PHÁP ĐOÁN THEO SÁU HÀO
Chương 6
NẠP GIÁP
I. PHƯƠNG PHÁP GIEO QUẺ

Ở phần trên đã nói dùng phương pháp bát quái để dự đoán thông tin có rất nhiều cách, trong đó
phương pháp đoán theo sáu hào là một trường phái lớn của nước ta. Phương pháp gieo quẻ theo sáu
hào, chủ yếu nhất là dùng phương páp lắc quẻ. Dùng 3 đồng tiền bỏ vào lòng bàn tay, úp hai tay lại,
lắc tất cả 6 lần thì thành quẻ.
Khi gieo quẻ, đầu tiên lấy 3 đồng tiền (tốt nhất là đồng Càn Long) đặt vào lòng bàn tay, úp hai
tay lại để im trong một phút cho từ trường của đồng tiền và từ trường của con người liên thông với
nhau. Trong cuộc sống hàng ngày, bất cứ việc gì có liên quan cũng là ta xúc cảm. Xúc cảm thì sẽ phát
ra thông tin, nên chỉ cần ở trong lòng chăm chú nghĩ về việc mình định đoán, đó gọilà tập trung ý
niệm, sẽ phát tin tức ra ngoài. Chỉ khi ý niệm của người xin đoán tập trung thì đồng tiền mới thông
qua phản hồi thông tin để phản ánh một cách chính xác trung thực qua mặt sấp, mặt ngửa của nó. Lắc
tất cả 6 lần và ghi lại hào của từng lần lắc là ta được quẻ.
Phương pháp dùng đồng tiền như sau: mặt có chữ là mặt ngửa, mặt không chữ là mặt sấp. Trong
3 đồng tiền nếu chỉ 1 đồng sấp thì ta ghi 1 chấm (.) tức là 1 dương; nếu có 2 đồng sập: ghi hai chấm
(..) đó là âm; nếu có 3 đồng sấp : ghi 1 vòng tròn "O" là dương; (3 mặt đều ngửa ta ghi dấu "X" gọi là
âm.
Hào có vòng tròn là hào dương động; hào có dấu "X" gọi là hào âm động. Trong quẻ hào
có "O" và hào có "X" gọi là hào động. Động thì biến, dương động biến thành âm; âm động biến
thành dương. Trong một quẻ sáu hào toàn động thì toàn biến; sáu hào đều động thì không biến. Một
chấm là "thiếu dương. 2 chấm là "thiếu âm", vòng tròn là "lão dương". Chủ về việc quá khứ; dấu
"X" là "lão âm" chủ về việc tương lai. Vòng tròn là hào động, "X" là hào biến. Dưới đây gieo 1 quẻ
làm ví dụ:



X hào thượng 1 dấu X là vạch đứt là âm
Quẻ ngoại . hào năm 1 chấm là đơn là dương
O hào bốn 1 vòng là 1 chấm là dương
Đoài
vi
trạch


.. hào ba 2 chấm là vạch đứt là âm Chấn
Quẻ nội .. hào hai 2 chấm là vạch đứt là âm vi
O hào đầu 1 vòng là 1 chấm là đường lôi
Lúc xếp hào thì xếp từ dưới lên trên. Lúc xếp tên quẻ thì lại xếp từ trên xuống dưới. Quẻ này có
quẻ nội là chấn, quẻ ngoại là đoài, là kim trên, mộc dưới, là quẻ "trạch lôi tuỳ".
Dưới đây giới thiệu hình tượng quẻ 8 quẻ đơn:


CÀN 1 chấm là vạch liền, cả 3 hào là vạch liền.

ĐOÀI hào đầu, hào hai là vạch liền, hào ba là vạch đứt. LY hào đầu, hào ba vạch là vạch liền; hào hai là vạch đứt CHẤN hào đầu là vạch liền; hào hai, hào ba là vạch đứt TỐN hào đầu là vạch đứt; hào hai, hào ba, là vạch liền KHẢM hào đầu và hào ba là vạch đứt; hào hai là vạch liền
CẤN hào đầu và hào hai đều là vạch đứt; hào ba là vạch liền

KHÔN cả ba hào đều là vạch đứt


Hai quẻ đơn trên dưới chồng lên nhau thì được gọi một quẻ mới là quẻ kép. Có 64 quẻ này lại
chia thành 8 nhóm gọi là "8 cung", mỗi cung có 8 quẻ, mỗi quẻ đều có tên riêng.
Người xưa trong thực tiễn dự đoán đã phát hiện bát quái và ngũ hành có quan hệ mật thiết với
nhau. Căn cứ vào kinh nghiệm thực tiễn đã tổng kết ra các thuộc tính của các quẻ trong 8 cung, đồng
thời phát hiện ra 6 hào của mỗi quẻ lại có thuộc tính với ngũ hành của nó và hàm chứa một thông tin
náo đó, gọi là "tượng hào". Để cung cấp cho độc giả học tập, nghiên cứu dưới đây xin giới thiệu
tượng hào của 64 quẻ.


II. TƯỢNG HÀO CỦA 64 QUẺ


1. CUNG CÀN BÁT QUÁI THUỘC KIM

CÀN VI THIÊN THIÊN PHONG CẤU THIÊN SƠN ĐỘN



Phụ mẫu tuất thổ.thế
Phụ mẫu tuất thổ. Phụ mẫu tuất thổ


Huynh đệ thân kim. Huynh đệ thân kim Huynh đệ thân kim.ứng

Quan quỷ ngọ hỏa. Quan quỷ ngọ hỏa.ứng
Quan quỷ ngọ hỏa.

Phụ mẫu thìn thổ Huynh đệ thân kim. kim.
Thê tài dần mộc.ứng Tử tôn hợi thủy. Quan quỷ ngọ hỏa...thế
Tử tôn tý thủy Phụ mẫu sửu thổ... thế Phụ mẫu thìn thổ....
Huynh đệ thân



THIÊN ĐỊA PHỦ
PHONG ĐỊA QUAN SƠN ĐỊA BÓC

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa www.tuviglobal.com 121
Phụ mẫu tuất thổ.ứng Thê tài mão mộc. Thê tài dần mộc. Huynh đệ thân kim. Quan quỷ tỵ hỏa. Tử tôn tý thủy... thế

Quan quỷ ngọ hỏa.
Phụ mẫu mùi thổ...thế
Phụ mẫu tuất thổ...
Thê tài mão mộc... thế Thê tài mão mộc... Thê tài mão mộc...

Quan quỷ tỵ hỏa... Quan quỷ tỵ hỏa...
Quan quỷ tỵ hỏa...ứng.
Phụ mẫu mùi thổ... Phụ mẫu mùi thổ...ứng Phụ mẫu mùi thổ...

HỎA ĐỊA TẤN HỎA THIỆN ĐẠI HỮU


Quan quỷ tỵ hỏa. Quan quỷ tỵ hỏa.ứng.
Phụ mẫu mùi thổ... Phụ mẫu mùi thổ...

Huynh đệ dậu kim.thế
Huynh đệ dậu kim.
Thê tài mão mộc... Phụ mẫu thìn thổ.thế

Quan quỷ tỵ hỏa...
Thê tài dần mộc.
Phụ mẫu mùi thổ...ứng Tử tôn tý thủy.


2. CUNG ĐOÀI BÁT QUÁI THUỘC KIM



ĐOÀI VI TRẠCH
TRẠCH THỦY KHỐN
TRẠCH ĐỊA TUỴ



Phụ mẫu mùi thổ.. thế Phụ mẫu mùi thổ...
Phụ mẫu mùi thổ...
Huynh đệ dậu kim. Huynh đệ dậu kim. Huynh đệ dậu kim.ứng
Tử tôn hợi thủy. Tử tôn hợi thủy.ứng Tử tôn hợi thủy. Phụ mẫu sửu thổ...ứng Quan quỷ ngọ hỏa...Thê tài mão mộc....
Thê tài mão mộc. Phụ mẫu thìn thổ. Quan quỷ tỵ hỏa...thế

Quan quỷ tỵ hỏa. Thê tài dần mộc... thế
Phụ mẫu thìn thổ...



TRẠCH SƠN HÀM
THỦY SƠN KIỂN ĐỊA SƠN KHIÊM



Phụ mẫu mùi thổ... ứng
Tử tôn tý thủy... Huynh đệ dậu kim...
Huynh đệ dậu kim. Phụ mẫu tuất thổ. Tử tôn hợi thủy...thế

Tử tôn hợi thủy. Huynh đệ thân kim... thế
Huynh đệ thân kim...

Huynh đệ thân kim.thế
Huynh đệ thân kim. Huynh đệ thân kim.
Quan quỷ ngọ hỏa.. Quan quỷ ngọ hỏa...Quan quỷ ngọ hỏa...ứng
Phụ mẫu thìn thổ... Phụ mẫu thìn thổ..ứng Phụ mẫu thìn thổ...

LÔI SƠN TIỂU QUÁ
LÔI TRẠCH QUY MUỘI
Huynh đệ tuất thổ... Phụ mẫu tuất thổ...ứng
Huynh đệ thân kim... Huynh đệ thân kim...

Quan quỷ ngọ hỏa.thế
Quan quỷ ngọ hỏa.
Huynh đệ thân kim. Phụ mẫu sửu thổ... thế
Quan quỷ ngọ hỏa.... Quan quỷ tỵ hỏa.

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa www.tuviglobal.com 122

3. CUNG LY BÁT QUÁI THUỘC HỎA

LY VI HỎA HỎA SƠN LỮ HỎA PHONG ĐỈNH



Huynh đệ tỵ hỏa.thế
Huynh đệ tỵ hỏa. Huynh đệ tỵ hỏa.
Tử tôn mùi thổ... Tử tôn mùi thổ... Tử tôn mùi thổ...ứng
Thê tài dậu kim. Thê tài dậu kim.ứng Thê tài dậu kim. Quan quỷhợi thủy.ứng Thê tài thân kim. Thê tài dậu kim.
Tử tôn sửu thổ... Huynh đệ ngọ hỏa.... Quan quỷ hợi thủy.thế
Phụ mẫu mão mộc. Tử tôn thìn thổ... thế Tử tôn sửu thổ...

HỎA THỦY VỊ TẾ SƠN THUỶ MÔNG PHONG THỦY HOÁN


Huynh đệ tỵ hỏa.ứng Phụ mẫu dần mộc. Phụ mẫu dần mộc.
Tử tôn mùi thổ... Quan quỷ tý thủy... Huynh đệ tỵ hỏa.thế
Thê tài dậu kim. Tử tôn tuất thổ ...thế Tử tôn mùi thổ... Huynh đệ ngọ hỏa...thế Huynh đệ ngọ hỏa...Huynh đệ ngọ hỏa...
Tử tôn thìn thổ. Tử tôn thìn thổ. Tử tôn thìn thổ.ứng
Phụ mẫu dần mộc.... Phụ mẫu dần mộc...ứng Phụ mẫu dần mộc...


THIÊN THỦY TỤNG THIÊN HỎA ĐỒNG NHÂN


Tử tôn tuất thổ. Tử tôn tuất thổ.ứng
Thê tài thân kim. Thê tài thân kim.

Huynh đệ ngọ hỏa. Huynh đệ ngọ hỏa.thế
Tử tôn thìn thổ.
Huynh đệ ngọ hỏa.
Quan quỷ hợi thủy.thế
Tử tôn sửu thổ.
Phụ mẫu dần mộc...ứng Phụ mẫu mão mộc.

4. CUNG CHẤN BÁT QUÁI THUỘC MỘC.

CHẤN VI LÔI LÔI ĐỊA DỰ LÔI THỦY GIẢI.



Thê tài tuất thổ....thế
Thê tài tuất thổ.... Tử tôn thìn thổ...
Quan quỷ thân kim... Quan quỷ thân kim... Quan quỷ thân kim..ứng
Tủ tôn ngọ hỏa. Tủ tôn ngọ hỏa.ứng Tủ tôn ngọ hỏa.
Thê tài thìn thổ...ứng Huynh đệ mão mộc... Tủ tôn ngọ hỏa... Huynh đệ dần mộc... Tử tôn tỵ hỏa.... Thê tài thìn thổ.thế
Phụ mẫu tý thủy. Thê tài mùi thổ...thế Huynh đệ dần mộc...


LÔI PHONG BẰNG ĐỊA PHONG THĂNG THỦY PHONG TỈNH


Thê tài tuất thổ...ứng Quan quỷ dậu kim...Phụ mẫu tý thủy....

Quan quỷ thân kim...
Phụ mẫu hợi thủy... Thê tài tuất thổ.thế
Tủ tôn ngọ hỏa. Thê tài sửu thổ...thếQuan quỷ thân kim...

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa www.tuviglobal.com 123


Quan quỷ dậu kim.thế Quan quỷ dậu kim.

Quan quỷ dậu kim.
Phụ mẫu hợi thủy. Phụ mẫu hợi thủy. Phụ mẫu hợi thủy.ứng
Thê tài sửu thổ... Thê tài sửu thổ...ứng Thê tài sửu thổ....



TRẠCH PHONG ĐẠI QUÁ
TRẠCH LÔI TUỲ


Thê tài mùi thổ.... Thê tài mùi thổ...ứng
Quan quỷ dậu kim. Quan quỷ dậu kim.
Phụ mẫu hợi thủy.thế Phụ mẫu hợi thủy.

Quan quỷ dậu kim.
Thê tài thìn thổ....thế
Phụ mẫu hợi thủy. Huynh đệ dần mộc...
Thê tài sửu thổ...ứng Phụ mẫu tý thủy.

5. CUNG TỐN BÁT QUÁI THUỘC MỘC



TỐN VI PHONG PHONG THIÊN TIỂU SÚC
PHONG HỎA GIA NHÂN



Huynh đệ mão mộc.thế
Huynh đệ mão mộc. Huynh đệ mão mộc.
Tử tôn tỵ hỏa. Tử tôn tỵ hỏa. Tử tôn tỵ hỏa.ứng
Thê tài mùi thổ... Thê tài mùi thổ...ứng Thê tài mùi thổ...

Quan quỷ dậu kim...ứng
Thê tài thìn thổ. Phụ mẫu hợi thủy.
Phụ mẫu hợi thủy. Huynh đệ dần mộc. Thê tài sửu thổ...thế
Tử tôn sửu thổ... Phụ mẫu tý thủy.thế Huynh đệ mão mộc.



PHONG LÔI ÍCH THIÊN LÔI VÔ VỌNG
HỎA LÔI PHỆ HẠP



Huynh đệ mão mộc.ứng
Thê tài tuất thổ. Tử tôn tỵ hỏa.
Tử tôn tỵ hỏa. Quan quỷ thân kim. Thê tài mùi thổ...thế
Thê tài mùi thổ... Tủ tôn ngọ hỏa.thế Quan quỷ dậu kim.

Thê tài thìn thổ...thế Thê tài thìn thổ..
Thê tài thìn thổ...
Huynh đệ dần mộc... Huynh đệ dần mộc... Huynh đệ dần mộc..ứng
Phụ mẫu tý thủy. Phụ mẫu tý thủy.ứng Phụ mẫu tý thủy.


SƠN LÔI DI SƠN PHONG CỔ

Huynh đệ dần mộc. Huynh đệ dần mộc.ứng
Phụ mẫu tý thủy... Phụ mẫu tý thủy...
Thê tài tuất thổ...thế Thê tài tuất thổ...

Thê tài thìn thổ... Huynh đệ dần mộc...
Quan quỷ dậu kim.thế
Phụ mẫu hợi thủy.
Phụ mẫu tý thủy.ứng Thê tài sửu thổ...

6. CUNG KHẢM BÁT QUÁI THUỘC THỦY


KHẢM VI THỦY THỦY TRẠCH TIẾT THỦY LÔI TRUÂN

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa www.tuviglobal.com 124

Huynh đệ tý thủy... thế Huynh đệ tý thủy... Huynh đệ tý thủy...
Quan quỷ tuất thổ. Quan quỷ tuất thổ. Quan quỷ tuất thổ.ứng
Phụ mẫu thân kim... Phụ mẫu thân kim..ứng Phụ mẫu thân kim... Thê tài ngọ hỏa...ứng Quan quỷ sửu thổ... Quan quỷ thìn thổ...
Quan quỷ thìn thổ. Tử tôn mão mộc. Tử tôn dần mộc...thế
Tử tôn dần mộc... Thê tài tỵ hỏa. Huynh đệ tý thủy. THỦY HỎA KÝ TẾ TRẠCH HỎA CÁCH LÔI HỎA PHONG
Huynh đệ tý thủy...ứng Quan quỷ mùi thổ... Quan quỷ tuất thổ...
Quan quỷ tuất thổ.. Phụ mẫu dậu kim. Phụ mẫu thân kim.thế
Phụ mẫu thân kim... Huynh đệ hợi thuỷ.thế Thê tài ngọ hỏa. Huynh đệ hợi thuỷ.thế Huynh đệ hợi thuỷ. Huynh đệ hợi thuỷ. Quan quỷ sửu thổ... Quan quỷ sửu thổ... Quan quỷ sửu thổ..ứng
Tử tôn mão mộc. Tử tôn mão mộc.ứng Tử tôn mão mộc.


ĐỊA HỎA MINH DI ĐỊA THỦY SƯ

Phụ mẫu dậu kim... Phụ mẫu dậu kim..ứng
Huynh đệ hợi thuỷ... Huynh đệ hợi thuỷ... Quan quỷ sửu thổ..thế Quan quỷ sửu thổ... Huynh đệ hợi thuỷ. Thê tài ngọ hỏa..thế Quan quỷ sửu thổ... Quan quỷ thìn thổ.
Tử tôn mão mộc.ứng Tử tôn dần mộc.
7. CUNG CẤN BÁT QUÁI THUỘC THỔ


CẤN VI SƠN SƠN HỎA BÔN SƠN THIÊN ĐẠI SÚC


Quan quỷ dần mộc.thế Quan quỷ dần mộc. Quan quỷ dần mộc.
Thê tài tý thuỷ... Thê tài tý thuỷ... Thê tài tý thuỷ...ứng Huynh đệ tuất thổ... Huynh đệ tuất thổ..ứng Huynh đệ tuất thổ... Tử tôn thân kim.ứng Thê tài hợi thủy. Huynh đệ thìn thổ.
Phụ mẫu ngọ hỏa... Huynh đệ sửu thổ... Quan quỷ dần mộc.thế
Huynh đệ thìn thổ... Quan quỷ mão mộc.thế Thê tài tý thuỷ.
SƠN TRẠCH TỐN HỎA TRẠCH KHUÊ THIÊN TRẠCH LY Quan quỷ dần mộc.ứng Phụ mẫu tỵ hỏa. Huynh đệ tuất thổ.
Thê tài tý thuỷ... Huynh đệ mùi thổ... Tử tôn thân kim.thế
Huynh đệ tuất thổ... Tử tôn dậu kim.thế Phụ mẫu ngọ hỏa. Huynh đệ sửu thổ...thế Huynh đệ sửu thổ... Huynh đệ sửu thổ...
Quan quỷ mão mộc. Quan quỷ mão mộc. Quan quỷ mão mộc.ứng
Phụ mẫu tỵ hỏa. Phụ mẫu tỵ hỏa.ứng Phụ mẫu tỵ hỏa.

PHONG TRẠCH TRUNG PHÙ PHONG SON TIỆM


Quan quỷ mão mộc. Quan quỷ mão mộc.ứng
Phụ mẫu tỵ hỏa. Phụ mẫu tỵ hỏa. Huynh đệ mùi thổ...thế Huynh đệ mùi thổ... Huynh đệ sửu thổ.. Tử tôn thân kim.thế Quan quỷ mão mộc... Phụ mẫu ngọ hỏa... Phụ mẫu tỵ hỏa.ứng Huynh đệ thìn thổ...

8. CUNG KHÔN BÁT QUÁI THUỘC THỔ



KHÔN VI ĐỊA
ĐỊA LÔI PHỤC
ĐỊA TRẠCH LÂM


Tử tôn dậu kim..thế Tử tôn dậu kim... Tử tôn dậu kim...
Thê tài hợi thủy... Thê tài hợi thủy... Thê tài hợi thủy...ứng Huynh đệ sửu thổ... Huynh đệ sửu thổ...ứng Huynh đệ sửu thổ... Quan quỷ mão mộc...ứng Huynh đệ thìn thổ... Huynh đệ sửu thổ...
Phụ mẫu tỵ hỏa... Quan quỷ dần mộc... Quan quỷ mão mộc.thế
Huynh đệ mùi thổ... Thê tài tý thuỷ.thế Phụ mẫu tỵ hỏa.

ĐỊA THIÊN THÁI LÔI THIÊN ĐẠI TRÁNG TRẠCH THIÊN GIẢI


Tử tôn dậu kim...ứng Huynh đệ tuất thổ... Huynh đệ mùi thổ...

Thê tài hợi thủy...
Tử tôn dậu kim...
Tử tôn dậu kim.thế

Huynh đệ sửu thổ... Phụ mẫu ngọ hỏa.thế
Thê tài hợi thủy.

Huynh đệ thìn thổ.thế
Huynh đệ thìn thổ.
Huynh đệ thìn thổ.
Quan quỷ dần mộc. Quan quỷ dần mộc. Quan quỷ dần mộc.ứng

Thê tài tý thuỷ. Thê tài tý thuỷ.ứng
Thê tài tý thuỷ.


THỦY THIÊN NHU THỦY ĐỊA TỶ

Thê tài tý thuỷ... Thê tài tý thuỷ...ứng
Huynh đệ tuất thổ. Huynh đệ tuất thổ.
Tử tôn thân kim.thế Tử tôn thân kim... Huynh đệ thìn thổ. Quan quỷ mão mộc...thế
Quan quỷ dần mộc. Phụ mẫu tỵ hỏa.... Thê tài tý thuỷ.ứng Huynh đệ mùi thổ.


III. ĐẠI CỤC HỖN THIÊN GIÁP TÝ

Tiết này chủ yếu nói về quy tắc sắp xếp thiên can địa chi của 8 quẻ: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Đoài. Nắm vững được quy tắc sắp xếp này thì có thể nhanh chóng và chính xác để sắp xếp
thứ tự thiên can địa chi của mỗi hào trong các quẻ của 64 quẻ.

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa www.tuviglobal.com 126

1. Phương pháp nạp chi của bát qúai

Quẻ nội của Càn : Tý thủy, dần mộc, thìn thổ;
Quẻ nội của Khảm : Dần mộc, thìn thổ, ngọ hỏa; Quẻ nội của Cấn : Thìn thổ, ngọ hỏa, thân kim; Quẻ nội của Chấn : Tý thủy, dần mộc, thìn thổ; Quẻ nội của Tốn : Sửu thổ, hợi thủy, dậu kim; Quẻ nội của Ly : Mão mộc, sửu thổ, hợi thủy; Quẻ nội của Khôn : Mùi thổ, tỵ hỏa, mão mộc; Quẻ nội của Đoài : Tỵ hỏa, mão mộc, sửu thổ; Quẻ ngoại của Càn : Ngọ hỏa, thân kim, tuất thổ; Quẻ ngoại của Khảm : Thân kim, tuất thổ, tý thủy; Quẻ ngoại của Cấn : Tuất thổ, tý thủy, dần mộc; Quẻ ngoại của Chấn : Ngọ hỏa, thân kim, tuất thổ. Quẻ ngoại của Tốn : Mùi thổ, tỵ hỏa, mão mộc. Quẻ ngoại của Ly : Dậu kim, mùi thổ, tỵ hỏa. Quẻ ngoại của Khôn : Sửu thổ, hợi thủy, dậu kim. Quẻ ngoại của Đoài : Hợi thủy, dậu kim, mùi thổ.
Trong 8 quẻ trên đây cách sắp xếp địa chi trong 6 hào của 2 quẻ Càn, Chấn giông nhau. Cách
sắp xếp địa chi trong 6 hào của nó là : sắp cách ngôi từ dưới lên trên. Ví dụ: hào đầu của quẻ càn là
tý thủy, hào hai là dần mộc, hào ba là thìn thổ, hào 4 là ngọ hỏa, hào 5 là thân kim, hào 6 là tuất thổ. những quẻ khác cung tương tự. Quẻ Càn, Khảm, Cấn, Chấn, là các quẻ dương địa chi của các quẻ dương thì sắp xếp theo chiều thuận. Các quẻ Tốn, Ly, Khôn, Đoài là quẻ âm, địa chi của các quẻ ấm
sắp xếp theo chiều ngược, tức là từ hào đầu sắp xếp ngược trở lên. Biết được cách sắp xếp ngũ hành
của các hào thì có thể nắm được chính xác quy tắc âm dương ngũ hành, sinh khắc chế hóa, tức là khâu quan trọng nhất để đoán quẻ đúng.
Trong phương pháp nạp chi vì sao quẻ Càn lại nạp: tý, dần, thìn, ngọ, thân, tuất? Vì sao quẻ Khôn lại nạp: mùi, tỵ, mão, sửu, hợi, dậu? Người xưa khi bàn về hào đã lấy 12 hào của hai quẻ "Càn, Khôn" ứng với 12 tháng trong 1 năm. Điều này trong các sách đã nói rất rõ: cái gọi là "hào thời" là
chỉ 12 hào trong hai quẻ Càn và Khôn tương đương với 12 thời, lại đem 12 thời này chia làm 12 tháng. Tức hào chín đầu của Càn làm "tý" là tháng 11, hào chín hai làm "dần" là tháng giêng; hào chín ba làm "thìn" là tháng 3; hào chín bốn làm "ngọ" là tháng 5; hào chín năm làm "thấn" là tháng 7; hào chín trên làm "tuất" là tháng 9. Hào sáu đầu của quẻ Khôn làm "mùi" là tháng 6; hào sau hai là "dậu" là tháng 8; hào sau ba làm "hợi" là thangs 10; hào sau bốn làm "sửu" là tháng12; háo sáu năm
là "mão" là tháng 2; háo sáu trên làm "tỵ" là tháng 4. Căn cứ nguyên tắc thời của 12 hào cho nên hào đầu của Cán lấy là Tý, rôi cách ngôi mà định tiếp hào sau. Nhưng cách sắp xếp các hào tiếp theo hào đầu không phù hợp với các sách trước kia đó là vì quẻ Khôn là quẻ âm, cách sắp xếp hào đầu của nó
là đi ngược lên.
Đối với 6 quẻ khác: chấn, khảm, tốn, cấn, ly, đoài, thứ tự địa chi các hào của nó cũng được sắp xếp tuần tự theo một quy luật nhất định. Vì: chấn, khảm, cấn là quẻ dương nên sắp xếp theo chiều thuận. Do đó hào chín đầu của quẻ Chấn bắt đầu từ Tý, hào sau đầu của quẻ khảm bắt đầu từ Dần; hào sáu đầu của quẻ Cấn bắt đầu từ quẻ thìn. Theo cách sắp xếp hào đầu của 3 quẻ ấy chính là tý, dần, thìn là của ba hào trong quẻ Càn. Cho nên quẻ Chấn là trưởng nam, lấy hào đầu của Càn làm
hào đầu của nó; quẻ Khảm là trung nam lấy hào hai của càn làm hào đầu; Cấn là thiếu nam lấy hào
ba của Càn làm hào đầu.
Thứ tự sắp xếp hào đầu của 3 quẻ âm Tốn, Ly, Đoài khá phức tạp. Nó không những đi ngược
của các hào thứ mà thứ tự của ngôi hào và quẻ cũng hoàn toàn ngược lại. Hào đầu của các quẻ ấy thứ
tự là: Đoài, ly, tốn. Đoài là thiếu nữ, theo quy tắc đếm ngược của quẻ âm thì lấy hào đầu của quẻ
Khôn làm hào trên của quẻ Đoài, nên hào sáu trên của quẻ Đoài bắt đầu ở mùi - thổ; Ly là trung nữ
lấy hào hai của khôn làm hào sáu trên Ly là tỵ - hỏa; Tốn là trưởng nữ lấy hào ba của Khôn làm hào
sáu trên nên hào trên của Tốn là mão - mộc. Thứ tự của các hào là từ trên xuống dưới sắp xếp cách ngôi.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét