Hiển thị các bài đăng có nhãn Bí quyết đầu tư mang tên Warren Buffett. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bí quyết đầu tư mang tên Warren Buffett. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2009

Bí quyết đầu tư của Warren Buffett

1.Đầu tư vào công ty chứ không đầu tư vào cổ phiếu

Warren Buffett quan niệm rằng cổ phiếu chỉ là tờ giấy chứng nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với công ty đó. Ông không đầu tư vào cổ phiếu, mà đầu tư vào công ty. Nói một cách khác, ông hoàn toàn không quan tâm đến việc mua đi bán lại cổ phiếu trong thời gian ngắn. Thay vào đó, ông áp dụng chiến lược “buy and hold” - mua và giữ - nghĩa là ông sẽ giữ cổ phiếu trong thời gian dài, rất dài và đôi khi giữ luôn nếu đó là những công ty ông xác định là chiến lược của mình.



2. Đầu tư theo giá trị thực:

Warren Buffett chịu ảnh hưởng sâu sắc của Benjamin Graham - người tiên phong về đầu tư theo giá trị. Ông cho rằng về lâu dài giá thị trường của cổ phiếu sẽ phản ảnh giá trị nội tại của nó. Do đó những cổ phiếu tốt là những cổ phiếu đang được thị trường định giá thấp (underpriced).

Theo ông, khoảng cách giữa giá thị trường và giá trị nội tại này càng lớn thì biên độ an toàn, cũng như lợi nhuận mà nhà đầu tư nhận được từ cổ phiếu sẽ càng cao. Để có lợi nhuận, phải tính được giá trị thật hay giá trị nội tại của cổ phiếu hay công ty đó. Các nhà đầu tư nổi tiếng khác như Benjamin Graham, đôi khi đưa ra những công thức xác định giá trị thực theo kiểu của mình, dĩ nhiên dựa vào những công thức cơ bản. Riêng Warren Buffett thì không đưa ra một công thức cụ thể nào của riêng ông. Do đó, theo một số tác giả, công thức tính giá trị thực của ông là một bí ẩn. Tuy vậy, theo phần lớn các tác giả và nhà nghiên cứu khác, Buffett sử dụng nguyên tắc xác định giá trị thật cơ bản như những nhà đầu tư, phân tích tài chính khác.

Cái khác duy nhất làm cho ông thành công là ông nghiên cứu rất kỹ và rất sâu từng công ty ông sắp đầu tư. Ông đã từng nói: “Để là nhà đầu tư thành công, chúng tôi đọc hàng trăm, hàng trăm báo cáo thường niên của các công ty”. Ngoài những chỉ số tài chính, ông còn quan tâm hết sức đặc biệt đến vị trí, lợi thế cạnh tranh của công ty và năng lực của ban lãnh đạo.

Những câu hỏi Warren Buffett đặt ra trước khi quyết định chọn công ty/cổ phiếu để đầu tư như công ty có phát triển tốt không, có lợi thế cạnh tranh không? Warren Buffett chỉ muốn mua cổ phiếu của công ty có lợi thế cạnh tranh cao; là công ty dẫn đầu thị trường của ngành kinh doanh chính của nó hoặc là có thương hiệu được khách hàng đánh giá cao.

Ông không muốn đầu tư vào những công ty không có lợi thế cạnh tranh. Ông còn xét xem công ty mà ông sắp đầu tư có nguy cơ bị công ty lớn mạnh khác nhảy vào cạnh tranh hay không. Ông là người sáng chế ra từ “economic moat” ngụ ý công ty đó có lợi thế cạnh tranh và tạo ra “hàng rào” ngăn cản sự cạnh tranh của các công ty khác.

Warren Buffett luôn đặt ra cho mình những câu hỏi:

- Công ty đó có mô hình kinh doanh đơn giản không? Ông chỉ đầu tư vào các công ty có mô hình đơn giản, dễ hiểu, không quá phức tạp. Ông chỉ đầu tư vào những ngành mà ông biết rất rõ. Lợi nhuận công ty tốt, tăng trưởng ổn định không?

- Tỷ số nợ trên vốn có thấp không? Tỷ số lợi nhuận trên nợ có cao không? Giả sử lợi nhuận không đạt được mức kỳ vọng, công ty có khả năng trả được nhũng món nợ đến hạn không?

- Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư có tốt không? Đây là một trong những chỉ số mà Buffett đặc biệt quan tâm. Ông chỉ đầu tư vào những công ty tạo ra mức lợi nhuận tốt.

- Chi phí vận hành của công ty có ở mức chấp nhận được hay không?

- Dòng tiền mặt để đầu tư có đủ lớn để tạo ra lợi nhuận và sự tăng trưởng?

- Công ty có giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư hay không? Việc công ty chia cổ tức hay không chia cổ tức là một trong những điểm khác biệt giữa Benjamin Graham và Warren Buffett. Benjamin Graham cho rằng công ty nên chia cổ tức cho nhà đầu tư. Đối với ông, cổ tức được chia tốt hơn cổ tức được giữ lại trong công ty. Trong khi đó, Warren Buffett muốn công ty giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư. Ông cho rằng, nếu như công ty đang làm ra lợi nhuận tốt - bằng hay cao hơn mức lãi suất mong muốn - thì công ty nên giữ lợi nhuận lại để tái đầu tư. Khi đó công ty sẽ trở thành một máy in tiền với tốc độ ngày càng tăng cao nhờ hiệu ứng tuyệt vời của lãi suất kép.

- Ban lãnh đạo có giỏi, có tầm nhìn, có bề dày thành tích về quản lý kinh doanh, có đạo đức không? Buffett chỉ đầu tư vào những công ty ông tin rằng ban lãnh đạo có năng lực.

Chọn thời điểm mua

Buffet không bao giờ vội vã mua những cổ phiếu có biên độ an toàn không rõ ràng. Thường thì ông sẽ đợi khi thị trường vào giai đoạn điều chỉnh hoặc khi thị trường đang thời kỳ giảm giá mạnh. Khi đó ông sẽ mua được cổ phiếu của công ty với giá thấp hơn giá trị nội tại của nó. Phương pháp đầu tư đơn giản này đã giúp ông thành công lớn và trở thành một trong những người có tài sản lớn nhất thế giới. Nó cũng giúp ông thoát được tổn thất trong những giai đoạn mà hầu hết mọi người đều bị thiệt hại, ví dụ như giai đoạn cổ phiếu các công ty Internet bùng nổ và sụp đổ. Tuy vậy, ông bị một số người phê bình là quá thận trọng và vì thế đã bỏ qua những cơ hội lớn.

Không quan tâm

Với chiến lược đầu tư nói trên Warren Buffett không quan tâm nhiều đến sự lên xuống của giá cả thị trường chứng khoán cũng như chu kỳ kinh tế. Nói đúng hơn ông chỉ quan tâm đến việc lên xuống giá khi ông chọn thời điểm mua. Khi đã mua rồi, ông không quan tâm đến sự lên xuống của giá nữa.

Một điểm nữa khá đặc biệt là ông rất ít quan tâm đến việc đa dạng hóa danh mục đầu tư. Nhiều nhà đầu tư đã nghiên cứu và thực hiện thành công các phương pháp đa dạng hóa danh mục đầu tư tức là chọn nhiều cổ phiếu của các công ty khác nhau, ngành khác nhau có tác dụng bổ sung, tương hỗ nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất có thể trong khi giảm rủi ro đến mức thấp nhất. Warren Buffett không theo trường phái đa dạng hóa này. Ông cho rằng nếu đã chọn được doanh nghiệp tốt để đầu tư thì sẽ đạt lợi nhuận cao và rủi ro thấp. Việc đa dạng hóa danh mục đầu tư, tức là chọn thêm những cổ phiếu khác vào danh mục đầu tư sẽ giảm lợi nhuận cao tạo ra từ công ty/cổ phiếu chính yếu.

Theo ông, nếu “lỡ” đầu tư vào doanh nghiệp có lãi suất thấp hơn kỳ vọng, thì hãy rút ra càng sớm càng tốt, vì càng để lâu, nhà đầu tư càng bị lỗ và vì thế mất cơ hội đầu tư ở công ty tốt. Còn nếu đã đầu tư đúng công ty làm ăn hiệu quả, thì đừng rút tiền gốc và cổ tức ra khỏi doanh nghiệp. Càng để lâu bao nhiêu thì lợi nhuận sinh ra càng cao bấy nhiêu.

Những câu nói hay

“Luật số 1: Đừng bao giờ thua lỗ. Luật số 2: Không được bao giờ quên luật số 1”. Nguyên tắc này khác hẳn với nguyên tắc cơ bản của các nhà kinh doanh cổ phiếu thành công: phải biết chấp nhận thắng và thua. “Giá là những gì chúng ta phải trả. Giá trị là những gì chúng ta nhận được”. “Nếu là nhà đầu tư bạn hãy tập trung vào việc công ty đó sẽ hoạt động kinh doanh như thế nào. Nếu là nhà đầu cơ, bạn hãy quan tâm đến giá thị trường của nó, và đó không phải là cách làm hay cuộc chơi của chúng tôi”.

“Nguyên tắc để làm giàu: Hãy sợ hãi khi những người khác tham lam. Hãy tham lam khi những người khác sợ hãi”.

Theo ông khi số đông “tham lam” sẽ đẩy giá cổ phiếu lên quá cao, vượt qua giá trị thật. Còn khi số đông sợ hãi sẽ đẩy giá cổ phiếu xuống tạo ra những cổ phiếu có biên độ an toàn, và lợi nhuận trong tương lai cao.

“Thời gian là kẻ thù của những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và là bạn của doanh nghiệp đang ăn nên làm ra. Nếu doanh nghiệp bạn đầu tư có tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu 20-25%, thời gian là bạn của bạn. Nếu tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp thấp hơn mức bạn mong muốn thì thời gian là kẻ thù của bạn”.

Bài 2 :Bí quyết đầu tư của nhà chứng khoán vĩ đại Warren Buffett

"Tôi muốn có những thương vụ tốt đến mức thậm chí một kẻ ngốc cũng có thể kiếm được tiền. Khi đầu tư, chúng tôi coi bản thân mình là những nhà phân tích kinh doanh chứ không phải là nhà phân tích thị trường", nhà buôn tiền lừng danh Warren Buffet bật mí bí quyết kinh doanh của mình.

Warren Buffet chia nguyên tắc đầu tư của mình thành 4 nhóm, gồm nguyên lý kinh doanh với những đặc điểm cơ bản của bản thân doanh nghiệp; nguyên tắc quản lý với những phẩm chất quan trọng mà các nhà quản lý cấp cao phải thể hiện; nguyên lý tài chính gồm 4 quyết định tài chính then chốt mà một công ty phải duy trì. Cuối cùng là nguyên lý giá trị với hai hướng dẫn có quan hệ mật thiết với nhau về giá mua.

Dưới đây là nguyên tắc thứ nhất trong nguyên lý đầu tư của Warren Buffett.

Buffett không coi chứng khoán là một thứ gì đó rất trừu tượng. Ông cũng không nghĩ theo khía cạnh các lý thuyết thị trường, khái niệm vĩ mô, hay xu hướng của ngành. Thay vào đó, ông đưa ra quyết định đầu tư chỉ dựa trên việc doanh nghiệp đó hoạt động như thế nào. Ông tin rằng nếu lựa chọn một vụ đầu tư chỉ vì bề ngoài chứ không dựa trên nền tảng cơ bản của hoạt động kinh doanh, thì khả năng gặp thất bại là rất lớn. Do vậy, Buffett tập trung vào nghiên cứu thận trọng tất cả những gì ông biết về công ty, tập trung vào ba vấn đề chính:

1. Công việc kinh doanh của công ty có đơn giản và dễ hiểu không?

2. Công ty có lịch sử hoạt động hợp lý không?

3. Công ty có triển vọng kinh doanh trong dài hạn không?

Theo quan điểm của Buffett, thành công tài chính của các nhà đầu tư có mối quan hệ mật thiết với trình độ hiểu biết công việc của họ. Do vậy, cần phân biệt những nhà đầu tư có định hướng kinh doanh với những nhà đầu tư “kinh doanh kiểu chộp giật”. Một quyết định mua hay không mua là rất quan trọng bởi xét cho cùng, sau khi nghiên cứu, các nhà đầu tư phải cảm thấy thuyết phục rằng công ty mà họ mua sẽ hoạt động tốt trong tương lai. Họ phải tin tưởng vào khả năng dự đoán lợi nhuận trong tương lai của mình. Họ hiểu sâu như thế nào về các nền tảng kinh doanh của công ty đó. Dự đoán tương lai luôn luôn đòi hỏi phải tinh tế. Mọi việc sẽ càng trở nên khó khăn hơn trên một thương trường mà bạn không hiểu gì về nó cả.

Qua nhiều năm, Buffett sở hữu nhiều loại hình công ty: Nhà ga, nông trại, công ty dệt may, nhà bán lẻ quan trọng, ngân hàng, công ty bảo hiểm, hãng quảng cáo, công ty xi măng, báo chí, đồ uống và thực phẩm, công ty truyền hình và truyền hình cáp... Ông kiểm soát một số công ty trong số này và một số khác ông đã hoặc đang là một cổ đông. Nhưng trong tất cả các trường hợp, ông đã hoặc đang nhận ra chính xác những công ty đó hoạt động như thế nào. Ông hiểu rõ doanh thu, chi phí, lưu lượng tiền mặt, mối quan hệ nhân công, sự linh hoạt của giá, và nhu cầu phân bổ nguồn vốn của mỗi công ty cổ phần đơn vị của Berkshire.

Buffett duy trì mức độ hiểu biết cao về các ngành kinh doanh của tập đoàn Berkshire vì ông chỉ lựa chọn các công ty trong phạm vi hiểu biết tài chính và trí tuệ của mình. Ông gọi đó là “vòng tròn khả năng”: "Nếu bạn sở hữu một công ty (cho dù là sở hữu toàn bộ hay chỉ một số cổ phiếu) trong một ngành bạn không hiểu gì về nó, không thể dự đoán sự phát triển chính xác thì bạn sẽ không thể đưa ra một quyết định sáng suốt được". Ông khuyên: “Hãy đầu tư trong vòng tròn khả năng của bạn. Vấn đề không phải là vòng tròn khả năng lớn như thế nào, mà vấn đề là bạn xác định giới hạn đó chuẩn xác như thế nào”.

Các nhà phê bình cho rằng những giới hạn mà Buffett tự áp đặt cho mình đặt ông ra ngoài những ngành có tiềm năng đầu tư lớn nhất, ví dụ như công nghệ. Ông trả lời rằng: “Đầu tư thành công không phải là vấn đề bạn hiểu biết nhiều như thế nào mà là bạn xác định điều bạn không biết thực tế như thế nào. Một nhà đầu tư chỉ cần làm rất ít việc miễn là anh ta tránh mắc phải những sai lầm lớn”. Để có được kết quả trên mức trung bình, Buffett đã phải học, thường là bằng cách làm những việc bình thường.

Tháng 11/2000, Warren Buffett và Berkshire Hahthaway chi 11 tỷ đôla cho công ty Benjamin Moore &Co., “Mercedes” của các công ty sơn. Anh em nhà Moore sáng lập ra công ty vào năm 1883 tại tầng hầm Brooklyn của họ. Hiện nay, Benjamin Moore là một trong năm công ty sơn lớn nhất Mỹ và danh tiếng về chất lượng luôn vượt trội.

Theo báo cáo, Buffett thanh toán 25% tiền lãi theo giá hiện tại của chứng khoán. Xét bề ngoài, điều đó có vẻ như đối lập với một trong những Nguyên tắc cứng rắn của Buffett: Đó là ông sẽ chỉ hành động khi giá đủ thấp để tạo ra biên độ an toàn. Tuy vậy, chúng ta cũng biết rằng Buffett không ngại trả tiền để đổi lấy chất lượng. Rõ ràng là giá chứng khoán tăng vọt 50% lên thành 37,62 đôla một cổ phiếu sau khi vụ mua bán được công bố. Điều này cho thấy, hoặc là Buffett tìm ra công ty khác bị định giá thấp hoặc là phần còn lại của thế giới đầu tư đang tin vào sự nhạy cảm của ông và đẩy giá cả lên thậm chí cao hơn hoặc cả hai.

Benjamin Moore chỉ là một loại công ty Buffett thích. Ngành kinh doanh sơn chẳng là gì cả nếu không đơn giản và dễ hiểu. Buffett cũng có ý định mua các công ty có một lịch sử hoạt động ổn định và kết quả là sau khi mua công ty, ông sẽ không cần phải thay đổi hệ thống hoạt động của nó. Gu đầu tư của ông là mua những công ty thành công và vẫn có triển vọng tăng trưởng. Thành công và tình trạng hiện tại của Benjamin Moore trên thương trường qua nhiều thập kỷ khẳng định chất lượng sản phẩm, sản xuất, sức mạnh nhãn hiệu, và dịch vụ ổn định của công ty. Hiện tại, sau 121 năm thành lập, công ty gặt hái được khoảng 80 triệu đôla lợi nhuận trên 900 triệu đôla doanh thu bán hàng.

Khi nghiên cứu Benjamin Moore, Buffett cũng thấy đây là một công ty hoạt động tốt. Mặc dù cách đây vài năm người ta vẫn còn băn khoăn về chiến lược bán lẻ của Moore, công ty đã tiến hành một chương trình trẻ hóa nhãn hiệu tại Mỹ và Canada. Benjamin Moore tăng lượng bán lẻ tại các cửa hàng độc lập bằng chương trình Singature Store và mua một số cửa hàng bán lẻ như cửa hàng Janovic đặt tại Manhattan. Chỉ trước vụ mua lại của Berkshire hồi năm 2000, công ty đã tiến hành một chương trình giảm thiểu chi phí và hợp lý hóa nhằm mục đích cải thiện hệ thống hoạt động của công ty.

Ngành kinh doanh của Coca-Cola tương đối đơn giản. Công ty mua hàng hóa đầu vào và kết hợp chúng lại để sản xuất ra một dung dịch, rồi đem bán chúng cho nhà đóng chai. Nhà đóng chai kết hợp dung dịch đó với những nguyên liệu khác và đem bán sản phẩm hoàn chỉnh cho các cửa hàng bán lẻ như các bách hóa, siêu thị, và các máy bán hàng tự động. Công ty cũng cung cấp sản phẩm nước ngọt cho các đại lý bán lẻ, những người bán nước ngọt cho người tiêu dùng theo tách hoặc chén.

Các nhãn hiệu sản phẩm của công ty bao gồm nước giải khát Coca-Cola, Diet Coke, Sprite, PiBB Xtra, Mello Yello, Fanta, Tab, Dasani và Fresca. Các đồ uống của công ty bao gồm các sản phẩm nước hoa quả nhãn hiệu Hi-C, nước cam Minute Maid, Powerade, và Nestea. Công ty sở hữu 45% Coca-Cola Enterprises, là công ty đóng chai lớn nhất nước Mỹ, và 35% Coca-Cola Amatil - công ty đóng chai Australia, không chỉ quan tâm tới sản phẩm ở riêng Australia mà còn cả sản phẩm ở New Zealand và Đông Âu.

Thế mạnh của Coca-Cola không chỉ là nhãn hiệu của các sản phẩm mà còn là hệ thống phân phối có một không hai trên thế giới của hãng. Ngày nay, doanh số bán hàng trên thế giới của các sản phẩm Coca-Cola chiếm 69% doanh số bán hàng thuần của công ty và 80% lợi nhuận của hãng. Cùng với Coca-Cola Amatil, công ty còn được hưởng lãi suất trên vốn cổ phần của các công ty đóng chai ở Mexico, Nam Mỹ, Đông Nam Á, Đài Loan, Hong Kong, và Trung Quốc.

Ông nội của Buffett từng sở hữu và biên tập tờ Cuming County Democrat, một tờ tuần báo ở West Point, Nebraska. Bà nội ông giúp việc tại tòa soạn và cũng sắp chữ tại cửa hàng in của gia đình. Cha ông, trong khi đang theo học trường Đại học Nebraska, làm biên tập cho tờ Daily Nebraskan. Bản thân Buffett từng là nhà quản lý phát hành cho tờ Lincoln Journal. Mọi người thường nói rằng nếu Buffett không lao vào sự nghiệp kinh doanh, gần như chắc chắn ông sẽ theo đuổi nghề báo.

Năm 1969, Buffett mua tờ báo quan trọng đầu tiên, tờ Omaha Sun, cùng với một nhóm những tờ báo tuần khác; từ những tờ báo này, ông học được sự năng động trong kinh doanh một tờ báo. Ông có 4 năm kinh nghiệm thực tế điều hành một tờ báo trước khi mua cổ phiếu đầu tiên của Washington Post.

Buffett hiểu rất rõ ngành ngân hàng. Trong năm 1969, Berkshire mua 98% Ngân hàng Quốc gia Illinois và Trust Company và nắm giữ nó cho tới năm 1979 khi Luật cổ phần ngân hàng yêu cầu Berkshire phải gạt bỏ toàn bộ lợi tức của công ty. Trong suốt khoảng thời gian 10 năm, ngân hàng đã hoạt động bên cạnh các công ty cổ phần khác mà Berkshire kiểm soát và Buffett báo cáo lợi nhuận và doanh thu mỗi năm của ngân hàng trong các báo cáo thường niên của Berkshire.

Buffett hiểu rõ sự rắc rối phức tạp của ngành kinh doanh bảo hiểm. Chính Gene Abegg - Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Ngân hàng Quốc gia Illinois đã dạy Buffett về kinh doanh ngân hàng. Ông biết rằng, các ngân hàng sẽ kinh doanh có lãi chỉ cần khoản cho vay được đưa ra một cách có trách nhiệm và các chi phí được giảm thiểu. Một ngân hàng được quản lý tốt không chỉ có thể tăng lợi nhuận mà còn thu được một số lợi tức trên vốn cổ phần.

Giá trị dài hạn của một ngân hàng theo Buffett là được xác định thông qua hành động của các nhà quản lý của ngân hàng đó, bởi vì họ kiểm soát hai chỉ số quan trọng: chi phí và các khoản cho vay. Những nhà quản lý tồi luôn có cách đẩy chi phí hoạt động lên trong khi tạo ra các khoản cho vay ngu xuẩn. Carl Reichard, sau này là Chủ tịch Hội đồng Quản trị của Wells Fargo, điều hành ngân hàng từ năm 1983 đã đạt được những kết quả ấn tượng. Dưới sự lãnh đạo của ông, cả tăng trưởng của lợi nhuận và lợi nhuận trên vốn cổ phần đều trên mức trung bình và hiệu quả hoạt động luôn ở mức cao nhất trên toàn quốc. Reichardt cũng xây dựng được một danh mục cho vay vững chắc.

Buffett không thích những công ty đang phải giải quyết những khó khăn, rắc rối. “Chúng tôi thích những cổ phiếu có mức sinh lợi cao trên vốn đầu tư, để chắc chắn rằng nó sẽ còn tiếp tục như vậy”, Buffett nói điều này trong đại hội thường niên của Berkshire năm 1995. Sau đó, ông nói thêm: “Tôi xem xét lợi thế cạnh tranh trong dài hạn và xem liệu nó có kéo dài lâu không”. Điều đó có nghĩa là, ông tìm kiếm thứ ông gọi là nhượng quyền kinh doanh.

"Khi tìm kiếm khả năng tồn tại lâu dài của một công ty nhượng quyền kinh doanh, điều quan trọng nhất đối với tôi là khám phá xem lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp tới mức nào. Tất nhiên tôi vẫn yêu thích một lâu đài lớn có tường rào và hào sâu với cá piranhas và cá sấu", Warren Buffett nói.

Xem tiếp !

Warren Buffett, Nhà đầu tư lớn nhất mọi thời đại!

Ngày nay các tỷ phú Mỹ vẫn luôn chiếm vị trí chủ đạo trong danh sách những người giàu có nhất thế giới, tài sản khổng lồ của họ có được từ nhiều nguồn khác nhau, từ các hoạt động kinh doanh khác nhau. Trong số đó vẫn có một nhà tỷ phú luôn được nhắc tới bởi sự “giản dị, khiêm tốn” trước sau như một.


Warren Buffett
Nhà tỷ phú sạch sẽ
Theo Tạp chí Forbes, Warren Buffett là nhà tỷ phú giàu thứ 2 thế giới với tài sản lên tới hơn 44 tỷ USD và trong 10 năm tới nữa, gia tài của ông sẽ lên đến con số 100 tỷ USD. Nhưng nhà tỷ phú này hoàn toàn khác hẳn với những tỷ phú nổi tiếng của thập niên 80 như Ivan Boesky, Micheal Milken. Ông được biết đến như một người đã giàu lên một cách “sạch sẽ”.
Ông làm việc không cần đến máy tính, thế nhưng ông luôn là một trong những người giàu nhất nước Mỹ trong thập niên 90 và được ông vua trong ngành công nghệ thông tin là Bill Gates rất mực hâm mộ.
Đó là Warren Edward Buffett. Ông sinh năm 1930, học ngành Tài chính tại trường Tài chính Wharton niên khoá 1947–49 rồi bất ngờ chuyển qua đại học Nebraska rồi tốt nghiệp khoa này tại đây năm 1950. Chưa hài lòng với trình độ của mình, ông tiếp tục theo học tại Đại học Columbia và lấy bằng thạc sỹ kinh tế năm 1951.
Sau đó ông đi làm và thi thố một lúc hai khả năng nổi trội của mình: làm nhân viên kinh doanh đồng thời phân tích chứng khoán. Đến năm 1965, ông giành tiền mua được cổ phần lớn ở công ty dệt may Berkshire Hathaway và đến 1970 trở thành Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc công ty.
Và với tài năng của mình, ông chủ tài ba này đã chuyển xưởng dệt may đó thành một tập đoàn khổng lồ vào thập kỷ 90, hoạt động trên các lĩnh vực “ngon ăn” nhưng khó làm nhất là mua bán công ty, bảo hiểm, sản xuất và dịch vụ…
Tuy sống đơn giản, không có gì nổi trội so với láng giềng nhưng tỷ phú này lại khá rộng lượng với các hoạt động từ thiện. Hiện ông đang cùng ca sỹ nổi tiếng Bono, người đã hát trong đám tang vợ ông năm ngoái, tham gia tích cực vào các hoạt động chống AIDS trên phạm vi toàn cầu.
Cũng như Bill Gates, ông tiết lộ là sẽ dành 99% tài sản của mình đóng góp vào quỹ từ thiện mang tên ông, Quỹ Buffett, cũng như tặng cho các tổ chức hoạt động từ thiện khác. Nhà tỷ phú này chưa quyết định sẽ để lại tài sản của mình cho ai trong số 3 đứa con của mình. Ông cho biết đã viết di chúc nhưng chỉ đề cập tới việc sẽ phân quyền quản lý Công ty Berkshire Hathaway của mình như thế nào và chỉ được mở ra xem sau khi ông chết.
Người Mỹ thầm lặng được cả thế giới để ý
Warren Buffett là một người Mỹ khá thầm lặng nhưng mỗi lời nói, hành động đều khiến cả thế giới để ý. Người đàn ông giàu có bậc nhất nước Mỹ này sống khiêm tốn trong căn nhà ở thật xa phố Wall, trung tâm tài chính và chứng khoán lớn nhất nước Mỹ và thế giới. Ông ở Omaha, một thị trấn nhỏ với 300.000 dân cư thuộc tiểu bang Nebraska.


Warren Buffett là người được Bill Gates kính trọng và hâm mộ.
Văn phòng của ông trông giống phòng khám của một bác sỹ, chỉ có 11 nhân viên giúp ông điều hành cả một giang sơn của mình. Làm việc kiểu cổ xưa, tức không cần đến máy tính và máy điện toán. Sự khiêm tốn của Warren Buffett đã khiến ông trở thành người hùng của nước Mỹ, một nhân vật trong sạch, đơn giản, trung thực trong lĩnh vực tài chính.
Nhà báo Adam Snith, tác giả cuốn “Supermoney” viết về ông như sau: “Không cần máy móc theo dõi diễn biến lên xuống của các cổ phiếu công ty tại thị trường chứng khoán, không cần thuốc an thần, không cần cắt dũa móng tay cho đẹp, không cần những chiến thắng rộn ràng. Chỉ cần những giá trị đơn giản, dễ hiểu. Ông dành nhiều thời gian để nô đùa với các con trong những trận bóng hoặc ngồi nhìn cánh đồng lúa”.
Rất khiêm nhường, song tỷ phú Warren Buffett cũng có lúc “chơi nổi” và thỉnh thoảng đầu óc lại hơi khác thường. Năm 1983, nhân ngày lễ sinh nhật của mình, ông đột nhiên nảy sinh ý định mua hẳn siêu thị bán bàn ghế Nebraska Furniture của bà Rose Blumkin. Ông tìm đến bà này hỏi giá, ra về và nhanh chóng trở lại với tấm ngân phiếu 60 triệu USD. Mua luôn cả một siêu thị mà không cần hỏi qua ý kiến của một chuyên gia kinh tế nào, chỉ có Warren mới dám nghĩ và đủ sức làm nổi.
Người rất có duyên với… USD!
Nhiều người coi Warren Buffett có những phép lạ đối với đồng USD. Donald Keough, Chủ tịch hãng Coca-Cola, một người bạn thân từ những năm 50 kể lại câu chuyện về Warren Buffet: “Tôi có 5 con và mỗi sáng đều phải đưa cả nhà đi làm. Warren có 3 con và anh ta ở lại nhà chơi xe lửa điện. Một ngày nọ Warren nói với tôi rằng nếu giao cho anh ta 5.000 USD tôi sẽ không còn phải lo lắng về việc có đủ tiền vào đại học cho các con nữa. Lúc đó tôi không rõ Warren làm gì nên làm sao dám giao cho 5000 USD. Nếu như tôi dám đưa cho anh ta món tiền ấy thì ngày nay tôi đã có dư tiền mua cả trường đại học”.
Warren Buffet sinh ra trong một gia đình khá giả, bố ông từng bốn lần làm nghị sỹ đảng Cộng hoà, là chủ nhân một công ty buôn bán ngoại tệ. Chàng Buffet lúc mới 11 tuổi đã tập tành làm ăn mua bán cổ phiếu. Lúc đó, cậu bé này mua 3 cổ phiếu của công ty có tên Cities Service Preferred với giá 40 USD mỗi cổ phiếu. Ngay sau đó giá cổ phiếu này hạ thê thảm, song cậu vẫn giữ lại thay vì bán tháo để cứu lấy mấy đồng đầu tư. Không lâu sau đó, cậu bán số của mình với giá lên tới 200 USD mỗi cổ phiếu.
Quá ngoạn mục, song ông chỉ thực sự nhảy vào lĩnh vực làm ăn từ năm 1956 với 5.000 USD tiền túi và 100.000 USD đi vay mượn của bạn bè để thành lập công ty. Khi công ty này giải thể vào năm 1969 thì vốn của nó đã tăng hơn 35 lần so với vốn ban đầu.
Năm 1963 ông mua lại 5% tổng số cổ phiếu của American Express khi giá mỗi cổ phiếu chỉ có 35 USD. Năm năm sau mỗi cổ phiếu của công ty này đã tăng lên đến 189 USD. Trong những năm 70, ông đã đầu tư mạnh vào các công ty thông tin đại chúng và ông trở thành một trong những nhà đầu tư giữ các cổ phần lớn của tạp chí Time, công ty quảng cáo hàng đầu nước Mỹ Ogilvy & Mathew, công ty Interpublic.
Danh sách liệt kê những thành công tài chính của Warren Buffet quả là không ngắn và trở thành những huyền thoại. Trị giá của Công ty Beshire Hathaway mà ông hiện đang làm chủ với 44% cổ phần trị giá hơn 10 tỷ USD.


Con đường làm giàu độc đáo của Warren Buffett được nhiều sách báo đề cập tới.
Ngay cả việc mua nhà của ông chủ tập đoàn tài chính danh tiếng Berkshire Hathaway cũng sinh lời dù ông không chủ ý làm giàu từ lĩnh vực này. Ông mua ngôi nhà cách đây gần 50 năm ở Omaha, với giá 31.500 USD. Năm 2003, các nhà định giá tài sản địa phương đã tính toán toàn bộ căn nhà của Buffett có giá 700.000 USD!
Nhà tiên tri vùng Omaha
Là bạn thân của Bill Gates, song ông nhất quyết từ chối đầu tư vào các dự án công nghệ thông tin, vốn đang là mốt suốt hai thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ trước. Và vụ nổ bong bóng internet vào đầu năm 2000 cho thấy tầm nhìn xa và tỉnh táo số 1 của ông già tinh quái này. Ông đã không phải chịu cảnh phá sản hay sốc nặng như những nhà đầu tư chạy theo phong trào khác.
Ông có biệt tài nhìn thấy những công ty có tiềm năng phát triển nhưng hiện còn bị đánh giá thấp hoặc rất thấp. Ông hơn hẳn hàng triệu nhà đầu tư khác chính ở chỗ đó. Nhờ mua những công ty và tài sản lúc giá còn quá thấp để rồi bán ra với giá cao ngất trời ít năm sau đó, tỷ suất lợi nhuận của ông gần như không tưởng.
Cụ thể, trong gần 40 năm qua miệt mài đầu tư, Công ty Berkshire Hathaway của ông đạt lợi nhuận trung bình 22,6%/năm. Tính chung từ năm 1965 tới nay, lợi nhuận của Berkshire Hathaway đã tăng khoảng hơn 2.000 lần, với việc sở hữu tới hơn 40 công ty con và tuyển dụng khoảng 150.000 nhân công. Đó là chưa kể tới những cổ phần giá trị lớn của ông tại Coca-Cola, American Express, Walt Disney hay Gillette hoặc những công ty nho nhỏ cỡ Geico hay General Re.
Vụ khủng bố 11/9/2001 khiến ngành bảo hiểm suýt chút nữa lâm vào khủng hoảng. Khoản tiền đầu tư lớn của ông cũng bị thiệt hại nhiều, lên tới 3,8 tỷ USD. Và cho đến nay, đó vẫn là vụ thua lỗ đáng kể duy nhất của nhà tài phiệt này.
Chính vì có khả năng nhìn xa trông rộng đến như vậy, Buffett được mệnh danh là “Nhà tiên tri vùng Omaha”. Cũng còn một số tranh cãi và dẫn chứng đây đó, song đa số người Mỹ và những doanh nhân quốc tế từng làm việc với ông đều suy tôn ông là nhà đầu tư lớn nhất của thế giới ở mọi thời đại.
Những mốc quan trọng trong đời
1945: Warren kiếm được 175 USD/tháng với công việc giao báo cho Washington Post. Dành dụm được ít tiền, ông bỏ 1.200 USD mua 0,2 km2 đất nông nghiệp.
1947: góp tiền cùng bạn học mua chiếc máy bắn đạn trò chơi giá 25 USD, đặt ở các cửa hàng cạo râu hớt tóc để khách chơi khi chờ tới lượt. Mua thêm 2 cái với giá tương tự trước khi bán cả 3 với giá 1.200 USD cho một cựu chiến binh một năm sau đó.
1949: Bất ngờ chuyển từ trường Wharton sang học ở Đại học Nebraska. Được đề nghị một chỗ làm tại hãng J.C. Penney, một trong những tập đoàn bán lẻ hàng đầu hệ thống siêu thị Mỹ, ngay sau khi tốt nghiệp nhưng đã từ chối.
1950: nộp đơn xin học trường Đại học kinh doanh Harvard nhưng bị từ chối nên đành chuyển sang học trường Đại học Columbia và được hai giáo sư nổi tiếng về chứng khoán là Ben Graham và David Dodd dìu dắt cho tới ngày đoạt bằng Thạc sỹ tài chính.
1951: Phát hiện thầy mình là Graham có tên trong Ban lãnh đạo công ty bảo hiểm GEICO và xin làm không công nhưng bị công ty từ chối vì sợ không đủ sức đáp ứng tham vọng lớn của Warren.
1954: Ben Graham gọi Warren vào làm cho mình với mức lương khởi điểm 1.000 USD/tháng.
1956: Warren nâng số tiền tiết kiệm được lên 140.000 USD và lập công ty Buffett Associates, Ltd.
1959: Warren gặp Charlie Munger và hai người ngay lập tức thấy hợp ý nhau. Người này sau đã trở thành Phó Chủ tịch Berkshire Hathaway, góp công lớn cho thành công của hãng.
1962: Đã có số vốn bạc triệu, đầu tư 1 triệu USD vào một nhà máy sản xuất mà ông cho là tiềm năng có tên Berkshire Hathaway, với mức giá rẻ 8 USD mỗi cổ phiếu.
1970: Tài sản riêng lên tới 25 triệu USD dù chỉ mới 39 tuổi. Warren giữ 29% cổ phần ở Berkshire Hathaway và lên làm Chủ tịch hãng.
2005: là nhà tỷ phú giàu thứ 2 thế giới với tài sản lên tới hơn 44 tỷ USD.
(Sưu tầm)
Xem tiếp !
/