Thứ Ba, 3 tháng 2, 2009

CHU DỊCH với DỰ ĐOÁN HỌC=Thiệu Vĩ Hoa (P8)

Chương 5
PHƯƠNG PHÁP DỰ ĐOÁN THEO BÁT QUÁI
I. PHƯƠNG PHÁP DỰ ĐOÁN
VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NÓ
Ơ nước ta dùng phương pháp dự đoán thông tin vào nhân thể có rất nhiêu: Bát quái, tứ trụ, xem tương mặt, tương tay, đại lục nhâm, tiểu lục nhâm, tử vi đẩu số, xem tướng sao, thiết bản thần số, đoán chữ, lưu tinh theo tháng v. v. ... Những phương pháp này đều là khoa học, có lý luận khoa học rất sâu, nên ra sức phát triển.
Phương pháp dự đoán thông tin theo bát quái không những đã trãi qua một thời gtian dài mà còn chia thành nhiều phái, nhiều phương pháp.


Thường thấy có"phương pháp lấy đồng tiền thay bói cỏ thi" tức là phương pháp đoán "sáu hào". Phương pháp lấy quẻ theo giờ, lấy quẻ theo phương vị, viết chữ, lấy quẻ theo số chữ, "kỳ môn độn giáp" (là phương pháp đoán ở tầng, thứ cao, nó có ứng dụng
rất quan trọng trong quân sự). Sách này chủ yếu chỉ bàn về hai phương pháp "lấy quẻ theo thời gian"
và gieo quẻ theo "sáu hào".
Đến nay những sách chú giải về "Chu dịch" có hơn 3.000 loại, những tác phẩm bàn về phương pháp dự đoán theo bát quái cũng không đếm xuể. Từ sau Xuân Thu trở đi hầu như triều đại nào cũng
có những tác phẩm nổi tiếng về mặt này. Những sách đó đã phát triển và tích luỹ nhiều kinh nghiệm quý báu cho cách đoán thông tin theo bát quái của nước ta.
Tổ tiên ta rất sớm đã phát minh ra phương pháp dự đoán thông tin. Căn cứ những điều đã ghi trong sách "Sơn hải kinh" thì có cách " nhìn tượng lấy quẻ. Nêu theo thời gian truy ngược xa hơn thời
kỳ "Chu dịch" ra đười thì từ đờ Đường Vu hoặc Trọng Lê, lúc đó phương pháp xem tượng động vật, thực vật, thiên tượng để đoán là rất nhiều. Hãy lấy phương pháp xem tượng động vật mà nói: khi người ta gặp việc khí khăn thì giết động vật để đoán cát hung, cho nên xuất hiện các phương pháp: Cốt tượng chiêm (đoán theo mật) v. v. .. Trong sách "Hậu hán thư, đông di truyền" có ghi "giết trâu
lấy bàn chân xem cát hung". Trong "Luận hàng" có nói: "Vai lợn, ngực dê có thể xem quẻ". Còn có cách giết gà để bói quẻ cát hung, như xem màu máu đẹp, tươi, dịch mật sáng mà đầy là điềm cát, nếu không là điềm hung. Do đó quẻ từ, hào từ của "Chu dịch" không ít hình tượng đều bắt nguồn từ chiêm tượng của ngày xưa.
Do năng lực tư duy của con người ngày càng phát triển, cũng do phương pháp dự đoán theo cách giết súc vật trước đây vừa phiền phức vừa không đủ chính xác, nên ngày nay đã xuất hiện phương pháp đốt mai rùa để xem quẻ cát hung. Phương pháp này chính là xem mức độc các đường nứt trên mai rùa sau khi đốt để đoán ra các sự việc cát hung. Do đó trong sách "Bạch hổ thông nghĩa" có ghi : "Rùa nghìn năm mà thiêng, cỏ thi trăm năm mà thần, lấy sự lâu dài của nó để phân biệt cát hung". Trong lịch sử gọi giai đoạn trên là thời kỳ gieo quẻ mai rùa.
Sự phát minh bát quái là một tiến bộ rất lớn trong lịch sử khoa học thông tin, nó không những là
sự phát minh phương pháp mà còn đặt cơ sở lý luận hoàn chỉnh học khoa học thông tin.
Phương pháp dự đoán thông tin theo bát quái, cho đến nay là phương pháp được bảo tồnl âu nhất, hoàn chỉnh nhất là phương pháp bói cỏ thi ghi trong hệ từ của "Chu dịch". "50 số đại diện, dùng
49 số". Khi bói theo cỏ thi, dùng 49 cây cỏ. Sau khi đã qua "mười cây, tám lần biến thành quẻ", theo

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

tượng quẻ đã lập được căn cứ tượng quẻ, lý quẻ, từ quẻ, từ hào động v. v. ... để đoán ra sự cát hung, thành bại của sự việc.
Học thuyết âm dương ngũ hành tức kim, mộc, thuỷ, hỏa, thổ dùng vào bát quái để dự đoán, đó
là phát minh to lớn trong lịch sử khoa học thông tin. Có người nói học thuyết âm dương, ngũ hành dùng vào quái thuật được phát minh từ đời Hán, thực ra trước đó từ thời Đông Chu đã bắt đầu vận dụng học thuyết này rồi.
Thời Tây Hán, dịch học dù về mặt lý luận hay phương pháp "bói cỏ thi" đều có một sự phát triển rất lớn, nó chiếm địa vị trọng yếu trong lịch sử dịch học của Trung Hoa. Về phương diện cải tiến cách bói cỏ thi thì nàh Kinh học Đổng Trọng Thư đời Hán là người đầu tiên ra sức phát triển thuyết
âm dương ngũ hành. Trong chương 2 cuốn cách "Trung Quốc thông sử giản biên" có chép: "Đổng
Trọng Thư dùng âm dương ngũ hành để suy đoán thiên tai, biết được cát hung". Cho nên cần phải nói
rõ là ở thời Tây Hán cách độn toán đã được cải tiến lần thứ nhất.
Đời Tây Hán cải tiến lần thứ hai, do nhà đại dịch học Kinh Phòng. Trên cơ sở thuyết âm dương ngũ hành của Đổng Trọng Thư, ông đã phát minh ra phương pháp phối hợp bói cỏ thi với chiêm bốc: "nạp giáp".
Gọi là "nạp giáp" tức là lấy 64 quẻ sắp xếp theo 8 cung, mỗi cung có 8 quẻ do quẻ thuần làm đầu. Mỗi quẻ của 8 cung lại có "hào thế" và "hào ứng". Lại lấy thiên can địa chi theo một quy luật nhất định sắp xếp với 6 hào của bát quái để được những quẻ thuôc các địa chi của ngũ hành. Căn cứ
vào cung gốc của quẻ thuộc ngũ hành sinh khắc mà định ra lục thân, tức: phụ mẫu, huynh đệ, thê tài,
tử tôn, quan quỷ. Ngoài ra còn có "lục thần", tức: thanh long, chu tước, câu trần, phi xà, bạch hổ,
huyền vũ. Lấy lục thần và thiên can địa chi thuộc ngũ hành sinh khắc và thời gian gieo quẻ để đoán
ra cát hung của sự việc. "Hào thế" và "hào ứng" là chủ của quẻ. Khi đoán phải dựa chính vào hai hào này.
Phương pháp "nạp giáp" của Kinh Phòng không những là sự cải tiến phương pháp mà về mặt
nội dung còn có công dụng rất rộng rãi là đoán sự việc cụ thể, độ chính xác cao. Đó lại là một lần
sáng tạo mới quan trọng của phương pháp dự đoán theo bát quái. Anh hưởng của phương pháp này rất lớn, nguyên lý sâu xa, còn lưu truyền đến ngày nay, quả thực giá trị của nó đáng được nghiên cứu.
Đến nhà Đường về mặt chiêm pháp lại phát minh ra lấy tiền thây cỏ thi. Điều đó đã thây đổi phương pháp phức tạp gieo quẻ bằng cỏ thi từng kéo dài hơn 3.000 năm. Phương pháp lấy tiền thây cỏ
thi tức là dùng 3 đồng tiền bỏ vào tay, úp hai bàn tay lại để lắc. Mỗi lần lắc xong, bỏ tiền lên bàn hoặc mặt đất sau đó ghi thành các vạch hào âm dương từ dưới lên trên, tất cả 6 lần lắc được 6 hào thành một quẻ. Bát quái là căn cứ vào tượng quẻ phối hợp với "nạp giáp", "thế ứng", hoặc lấy "dụng thần", hoặc lấy "hào đồng" của ngũ hành sinh khắc và tham khảo quẻ từ, hào từ để đoán cát hung.
Phương pháp lấy tiền thay cỏ thi đã tổng hợp được ưu điểm của tất cả các phương pháp. Nó không những là phương pháp tổng hợp có uy quyền nhất hiện nay của nước ta, mà không ít nước phương tây
cũng rất coi trọng phương pháp này trong ứng dụng và nghiên cứu.

Nhà thiên văn, dịch học, bát quái đại sư
Thiệu Khang Tiết đời Tống đối với việc nghiên cứu và
phát triển dịch học của Trung Quốc đã có những cống hiến to lớn, đặc biệt là dùng bát quái để dự đoán thông tin đã có nhiều phát minh và sáng tạo. Trong cách gieo quẻ theo năm, tháng, ngày, giờ chính là phát minh của ông. Ong lấy số của năm, tháng, ngày, giờ, dùng phương pháp cộng trừ, nhân, chia để đưa vào trong quẻ, từ đó lập ra tượng quẻ, tìm ra hào động, căn cứ sự sắp xếp của âm dương ngũ hành bát quái, dùng phương pháp sinh khắc của "thể, dụng" kiêm dùng chiêm từ của "Chu dịch"
để đoán ra hung cát. Thiệu Khang Tiết phát minh ra phương pháp gieo quẻ này đã có một ảnh hưởng

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

to lớn đến hậu thế. Đó là một trong những phương páp quan trọng được ứng dụng rộng rãi hiện nay ở nước ta cũng như được các nhà dịch học nước ngoài rất coi trọng. Nhật Bản rất coi trọng nghiên cứu
phương pháp này. Trong cuốn sách "Mai hoa bí truyền" mới xuất bản gần đây thực tế là lấy cơ sở
"Mai hoa dịch số" của Thiệu Khang Tiết mà viết ra.
Phương pháp lấy tiền thay cỏ thi tuy là phương pháp tổng hợp của nước ta nhưng vẫn còn có 1
chỗ chưa hoàn thiện, đó là: người muốn đoán phải tự mình gieo quẻ mới dự đoán được, và mưói đoán
chuẩn. Còn người ở xa không thể đến thì không có cách gì đoán được. Phương pháp gieo quẻ thời
gian của Thiệu Khang Tiết đã bổ cứu nhược điểm đó. Cho dù rất xa trong hay ngoài nước, chỉ cần lấy
chính xác thời gian xảy ra sự việc, hoặc một việc nào đó chuẩn bị sau này mới làm, chỉ cần gửi thư đến ghi rõ ngày tháng là có thể đoán được qua gieo quẻ. Kết quả vẫn rất chính xác.
Các phương pháp trên đây, cho dù là phương pháp cỏ thi hay phương pháp gieo tiên, hay phương pháp gieo quẻ theo thời gian đều là lấy "số" làm căn cứ để lập quẻ. Cho nên có "số" là lập được quẻ,
có quẻ sẽ có tượng, có tượng thì có lý. Do đó bát quái là biểu hiện và ứng dụng của chữ số, là tượng trưng của tượng.
"... Một môn khoa học chỉ khi nào nó dùng chữ số để biểu thị thì cuối cùng nó mới được gọi là khoa học". Tổ tiên ta đã phát minh ra dùng bát quái để đự đoán thông tin không phải là mê tín phong kiến mà hoàn toàn ngược lại đã phủ định thiên mệnh luận, phủ định mê tín phong kiến, đồng thời biểu hiện nhân dân ta yêu khoa học, tin khoa học, dùng tư tưởng tiên tiến của khoa học. Đó là điều không ai chối cãi được.


II. PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN BÁT QUÁI
Chương này sẽ nói về cách gieo quẻ. Ngoài cách lắc tiền gieo quẻ do Thiệu Khang Tiết người
Tống phát minh ra, ở đây sẽ bàn về "Mai hoa dịch số".
Phương pháp gieo quẻ bát quái có:
1. Gieo quẻ theo năm, tháng, ngày, giờ.
2. Dùng 3 đồng tiến để gieo quẻ.
3. Căn cs phương vị của người đến để gieo quẻ.
4. Gieo quẻ theo nét chữ và số chữ.
5. Gieo quẻ theo thanh âm (tiếng)
6. Gieo quẻ theo máu sắc, v. v. ...
Phương pháp lắc tiền gieo quẻ sẽ chuyễn bàn ở một chương sau. Ơ đây trước hết bàn về 6 cách gieo quẻ thường dùng nhất.


1. Gieo quẻ theo năm, tháng, ngày, giờ

Lấy năm, tháng, ngày, làm quẻ thượng; năm, tháng, ngày thêm giờ làm quẻ hạ. Lại lấy tổng số
của năm tháng ngày giờ để tìm hào động. Ví dụ: năm Tý là số 1, năm sửu số 2, đến năm Hợi số 12; tháng giêng là số 1, đến tháng 12 là số 12; ngày mồng 1 là số 1, đến ngày 30 là số 30. Lấy số của năm tháng ngày cộng lại chia cho 8, lấy số dư làm quẻ thượng. Giờ, ví dụ Tý là số 1 đếm đến hợi là
số 12, đem số của năm tháng ngày cộng với giờ sau đó chia 8, số dư làm quẻ hạ. Tổng số của năm, tháng, ngày, giờ chia cho 6, lấy số dư làm hào động.
Phàm khi gieo quẻ, lấy số 8 làm quẻ, số quá số 8 thì chia cho 8 lấy số dư làm quẻ.

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

Muốn tìm hào thì chia cho 6; lấy tổng số của năm, tháng, ngày, giờ chia cho 6, số dư là số của

hào.


Vì sao muốn tính quẻ phái chia cho 8 ? Hào thì chia cho 6? Vì quẻ có 8 phương, nên phải chia
cho 8; quẻ có 6 hào, nên phải chia cho 6.
Gieo quẻ: sau khi chia 8 lấy số dư làm quẻ. Dư 3 tức là 3 quẻ Ly, dư 7 làm quẻ cấn, dư 0 thì lấy
số 8 làm quẻ tức là quẻ Khôn. Số nhỏ hơn 8 tức không đủ chia cho 8 thì lấy luôn số đó làm quẻ. Nếu
số đó là 4 là quẻ Chấn, 6 là quẻ Khảm ... (theo tác giả: đây là theo cách gieo quẻ số tiên thiên của
Phục Hy. Xem số đó tương ứng với quẻ, xim xem ở hình vẽ thứ tự bát quái của Phục Hy. Tức là Càn
- 1, Đoài - 2, Ly - 3, Chấn - 4, Tốn - 5, Khảm - 6, Cấn - 7, Cấn 8).
Cách tìm hào động: sau khi chia 6, số dư là hào động. Dư 1 là hào một động, dư 2 là hào 2 động,
4 là hào 4 động, 5 là hào động 5. Nếu chia 6 bừa hết lấy 6 là hào động. Trường hợp số nhỏ hơn 6 thì lấy số đó làm hào động. Số 4 là hào 4 động.
Ví dụ : Năm 1985, tháng 12, ngày 28, 3 giờ 35' chiều có người đến hỏi: "7 giờ rưỡi tối nay đội
Bóng chuyền nữ Trung Quốc đấu với Liên đội nữ ngôi sao thế giở ở Bắc Kinh, ai thắng ai thua?"
Theo âm lịch là âm At Sửu, tháng 11 ngày 17 giờ Thân, tức: At Sửu, Mậu Tỵ, Tân Sửu, Bính
Thân.
Cách tính quẻ như sau : 2 + 11 + 17 = 30; 30 chia 8 dư 6, 6 là khảm, là quẻ thượng. 30 + 9 (giờ thân) = 39; 39 chia 8 dư 7, 7 là cấn, là quẻ hạ. 39 chia 6 dư 3 - tức



là hào 3 động. Tượng quẻ là "thủy sơn kiến" . Quẻ thượng là Khảm, là thủy, là đội bóng
nữ của Trung Quốc, quẻ hạ là cấn, Cấn là thổ là đội ngôi sao thế giới. Nhưng mùa đông là mùa thủy vượng. Khảm thủy lâm nguyệt kiến, nên lực mạnh. Đội thế giới tuy ở ngôi Thổ, nhưng là ở đất lưu tù
vô lực nên không khắc Thủy vượng được. Do đó đội nữ ta nhất định thắng. Kết quả cuối cùng đúng như dự đoán.


2. Gieo quẻ theo phương của người đến.

Ví dụ : ngày Kỷ Sửu, giờ Mão có 1 ồng già từ phương Tốn đến, sắc mặt lo lắng, hỏi "ví sao mà ông lo?". Ong không nói già cả. Lạ quá nên phải đoán! Lấy chỗ ông già ở là Càn làm quẻ thượng. Phương đi đến (phương Tốn) là quẻ hạ, là quẻ "thiên phong cấu". Lại lấy số càn 1, tốn 5 cộng thêm
với số 4 là giời Mão, được tổng cộng là 10,




chia 6 dư 4, hào 4 là hào động. Tượng quẻ như sau "thiên phong cấu" . Hào 4 động.


3. Gieo quẻ theo số nét chữ và số chữ.

Quẻ 1 chữ : Quẻ một chữ rất khó đoán, nếu chữ viết ngoáy không rõ thì không dùng được. Nếu chữ viết rõ thì lấy số nét của nó. Lấy phần bên trái là dương, phần bên phải là âm; hoặc phần trên là dương, phần dưới là âm. Xem phần bên trái mấy nét, phần bên phải mấy nét, hoặc phần trên, phần dưới mỗi phần mấy nét. Lấy phần trái làm quẻ thượng, phần phải làm quẻ hạ. Tương tự: phần trên quẻ thượng, phần dưới quẻ hạ. Lấy tổng số nét cả chữ chia cho 6 để tìm hào động.

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

Ví dụ : 1 người viết chữ "Tín. Bên trái là quẻ thượng, có 2 nét là quẻ đoài; bên phải là quẻ Hạ
có 7 nét là Cấn. Tổng số nết là 9, chia cho 6 dư 3, nên hào 3 là hào


động. Ta được quẻ "Trạch sơn hàm"
Ví dụ : chữ "Nam -". Phần trên là quẻ thượng, là chứ Điền, 5 nét, là Tốn, phần dưới là chữ Lực
2 nét là Đoài, tổng số nét là 7, chia 6 dư 1, nên hào 1 là hào




động. Tượng quẻ như sau:


Nếu những quẻ bên cạnh có : , , , , đó đều là tiêu chí hào động của 1
quẻ. Ví dụ:
Là hào 4 động




Là hào 3 động


Là hào 1 động
Quẻ 2 chữ : chia ra 2 phần, lấy số nét của 1 chữ chia 8 số dư là quẻ thượng, số nét của chữ thứ 2
chia 8, số dư là quẻ hạ. Lấy tổng số nét của hai chữ chia 6 để tìm hào động. Ví dụ: hai chữ "Tín -
nam:", chữ Tín: 9 nét chia 8 dư 1 là càn, nên quẻ thượng là càn. Chữ nam 7 nét là cấn. Quẻ hạ là cấn.
Tổng số nét của hai chữ là 16 chia 6 dư 4, hào 4 là hào động. Đó là quẻ "Thiên sơn độn".
Quẻ 3 chữ : số nét chữ đầu là quẻ thượng, hai chữ sau là quẻ hạ. Lấy cả 3 chữ là



hào động. Quẻ thượng là Càn, quẻ hạ là Đoài, là quẻ "thiên trạch lý"
Gieo quẻ theo họ và tên : Lấy số nét của họ làm quẻ thượng số nét của tên làm quẻ hạ. Lấy tổng số nét của họ và tên chia 6 số dư làm hào động.
Trường hợp 4 chữ : Số nét 2 chữ liền đầu làm quẻ thượng, 2 chữ là quẻ hạ.
- 5 chữ: 2 chữ đầu là quẻ thượng, 3 chữ sau là quẻ hạ.
- 6 chữ: : 3 chữ đầu là quẻ thượng, 3 chữ sau là quẻ hạ.
- 7 chữ: 3 chữ đầu là quẻ thượng, 4 chữ sau là quẻ hạ.
- 8 chữ: 4 chữ đầu là quẻ thượng, 4 chữ sau là quẻ hạ.
- 9 chữ: 4 chữ đầu là quẻ thượng, 5 chữ sau là quẻ hạ.
- 10 chữ: 5 chữ đầu là quẻ htượng, 5 chữ sau là quẻ hạ.
Cách lấy hào động: giống trường hợp lấy cho 3 chữ.
Từ 11 chữ đến 100 chữ đều có thể gieo quẻ được, cứ theo nguyên tắc nữa đầu là quẻ thượng,
nửa sau là quẻ hạ. Lấy tổng số chữ của nó chia cho 6 để tìm hào động của nó.
Cách gieo quẻ theo chữ cho dù là phồn thể hay giản thể đều phải viết rõ ràng chuẩn xác, nét
bút không rõ không dùng được.


4. Gieo theo quẻ âm thanh

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

Phàm nghe tiếng kêu, đếm được mấy số thì lấy đó làm quẻ thượng, thêm số thời gian làm quẻ
hạ. Lấy tổng số trừ 6, số dư là hào động. Nếu tiếng kêu của động vật thì kêu mấy tiếng, hoặc nghe người đánh mấy tiếng trống đều có thể gieo quẻ.
Ơ quẻ động vật: thấy bầy vật đang chuyển động thì không thể lấy quẻ. Nếu thấy một ít vật thì
có thể gieo quẻ được. Động vật là quẻ thượng, phương từ đó đi đến là quẻ hạ. Ví dụ: có tiếng bò rống
ở phương Khảm, bò thuộc Khôn là quẻ thượng, phương Khảm là quẻ hạ. Khôn cộng với Khảm thêm giờ, số của nó chia 6 số dư là hào động.


5. Gieo quẻ theo kích thược

Vật có kích thước, lấy số trượng tính ra quẻ thượng, lấy số xích làm quẻ hạ. Tổng số của trượng
và xích chia 6, số dư làm hào động. Số lẻ thốn (tấc) không kể. Quẻ xích thốn thì lấy số xích làm quẻ thượng. Số thôn là quẻ hạ, tổng số xích và số thón để tìm hào đồng. Số phân bỏ qua.


6. Gieo quẻ theo cách gia số.

Cách gieo quẻ theo năm tháng ngày giờ, cùng trong 1 giờ chỉ có 1 quẻ. Nhưng trong cùng mọt
giờ lại có nhiều người đến lấy quẻ thì không thể lấy cùng 1 quẻ ra mà đoán được. Hoặc giả có nhiều
người cùng đến không thể từ 1 quẻ mà đoán cho nhiều người. Để giải quyết vấn đề này, có thể dùng
cách cộng thêm số nét của tên họ để quyết định quẻ.
Ví dụ: có 3 người họ: Vương, Điền, Hàn đồng thời đến hỏi về việc làm nhà. Có thể phân biệt
lấy quẻ như sau: năm, tháng, ngày làm quẻ thượng: năm, tháng, ngày giờ thêm số nét của tên họ làm quẻ hạ. Lấy tổng số chia 6 lấy số dư làm hào đồng. Sau đó căn cứ vào quẻ của 3 người khác nhau để
đoán cát hung.
Gặp việc hôn nhân, mai táng cũng có thể dùng cách này. Người có tang thì thêm họ, người kết
hôn thì thêm số nét chữ nam hoặc nữ để gieo quẻ.
Phương pháp gieo quẻ theo năm tháng ngày giờ, trong 1 giờ chỉ có 1 tượng quẻ, như giờ Giáp
lấy quẻ được quẻ Khảm, nhưng thông tin của quẻ Khảm thuộc về anh A, anh B không thể dùng. Anh
B muốn đoán, phải theo phương pháp "gieo quẻ theo phương vị", hoặc bảo anh ta viết chữ để gieo quẻ, như thế cũng sẽ tìm được những thông tin anh ta cần biết.



7. Hào động

Những phương pháp gieo quẻ trên đây đều có hào động, hơn nữa trong quẻ chỉ có 1 hào động. Như vậy trọng điểm của quẻ đã lộ ra, có lợi cho dự đoán.
Hào động của quẻ là sau khi chia cho 6 được số dư, số đó là số của hào động. Tác dụng của hào
đồng là:
1. Hào động là tiêu chí chủ yếu dùng để phân biệt quẻ Thể và quẻ Dụng. Một quẻ chia thành quẻ thượng và quẻ hạ, quẻ nào có hào động là quẻ dụng, không có hào động là quẻ Thể. Hào động ở quẻ Hạ thì quẻ hạ là quẻ Dụng, quẻ thượng là quẻ Thể, và ngược lại. Quẻ Thể là minh, quẻ Dụng là người khác hay việc muốn đoán.

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

2. Hào động là tiêu chí chủ yếu của quẻ Biến. Có động thì có biến, hào dương động biến thành hào âm và ngược lại. Hào biến thì quẻ cũng biến. Ví dụ: hào chín đầu của quẻ Càn động là từ hao dương biến thành hào âm, nên quẻ Càn biến thành quẻ "Thiên phong cấu".
3. Hào động là tiêu chí để đoán cát hung của sự việc cần đoán. Sau khi thành quẻ, tuy dùng ngũ hành và quẻ thể, quẻ dụng tương sinh tương khắc để đoán cát hung, nhưng phải tham khảo thêm hào
từ trong quẻ đó. Ví dụ: hào đầu động thì xem từ của hào đầu. Hào 5 động thì xem từ của hào 5 để biết
nó chủ về gì. Ví dụ: được quẻ càn, hào chín đầu rộng hào từ của nó nói: "Tiềm long vật dụng" thì có thể đoán là: thời cơ của sự việc chưa điến, trước mắt không nên tham làm.
4. Hào động là sự việc biến thành tốt hay xấu, tức là tiêu chí chủ yếu để phân biệt biến sinh, biến khắc, biến ngang nhau, và biến xấu đi. Ví dụ: gieo được quẻ Càn, hào chín hai động, sẽ biến thành quẻ: "Thiên hỏa đồng nhân". Quẻ thượng là càn, là quẻ thể, là kim; quẻ hạ là quẻ ly, là quẻ dụng, là hỏa; hỏa khắc kim tức quẻ dụng khắc quẻ thể, nên có thể đoán là : việc này trước lành sau
dữ.
5. Hào động cũng là tiêu chí chủ yếu của hướng người ra đi và phương hướng biến hóa. Ví dụ: gieo được quẻ "thiên phong cấu", hào chín ba động. Quẻ hạ là Tốn, là quẻ dụng, là người đi xa, là hướng đông nam. Vì hào chín ba động, tốn biến thành quẻ khảm, khảm là phương bắc nên có thể đoán người ấy ban đầu đi hướng đông nam sau đó đi lên hương bắc.


III. PHÉP BIẾN ĐÔỈ LẪN NHAU CỦA QUẺ THẾ VÀ QUẺ DỤNG


Sau khi đã thành quẻ, chia ra quẻ chủ, quẻ hỗ, quẻ biến. Quẻ chủ là giai đoạn đầu, quẻ hỗ là giai đoạn giữa và quẻ biến là giai đoạn cuối của sự việc. Quẻ Thể là mình, quẻ dụng là người khác hay sự việc. Vì vậy quẻ thể nên khắc quẻ dụng, không nên quẻ dụng khắc quẻ thể. Nên quẻ dụng sinh quẻ thể, không nên ngược lai. Dụng khắc thể thì không tốt, thể sinh dụng mình sẽ bị hao tổn, thể ngang
với dụng thì tốt. Quẻ ngang nhau thì thuộc tính của ngũ hành quẻ thượng và quẻ hạ giống nhau. Quẻ ngang nhau có tất cả 14 quẻ: Càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly đoài, quải, khiêm, bóc, hằng, ích.


1. Quẻ hỗ

Quẻ hỗ là lấy quẻ chủ bỏ đi hào trên cùng và hào dưới cùng, chỉ giữ lại 4 hào rồi chia thành quẻ thượng và quẻ hạ. Ví dụ: quẻ "thủy sơn kiển, quẻ chủ là thượng khảm

hạ cấn . Bỏ hai hào trên dưới của quẻ chủ thành ( ). Lại đem 4 hào này chia thành quẻ thượng và quẻ hạ. Ví dụ: lấy 3 hào trên làm quẻ thượng, 3 hào dưới



làm quẻ hạ, như vậy đã thành quẻ hỗ là "hỏa thủy vị tế" , que thượng là ly, quẻ hạ làm khảm.
Quẻ hỗ còn phân ra quẻ hỗ của thể và quẻ hỗ của dụng. Nếu quẻ thể ở trên thì quẻ hỗ của thể ở trên, hoặc ngược lại quẻ thể ở dưới thì quẻ hỗ của thể ở dưới. Hai quẻ càn, khôn không có quẻ hỗ.

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

2. Tương sinh tương khắc của quẻ thể, quẻ dụng.

Mọi việc trong trời đất có cát có hung, muốn biết cát hung cần phải đoán rõ thiên cơ của nó. Cho nên sau khi thành quẻ, thứ nhất phải xem lời bàn của hào từ trong "Chu dịch", thứ hai phải xem tượng quẻ và cái lý ngũ hành, sinh khắc, vượng suy để đoán cát hung. Ví dụ quẻ Càn, hào chín đầu là "Tiềm long vật dụng" tức việc chưa thể làm thì nên ẩn phục đã.
Quẻ thể khăc quẻ dụng là cát, quẻ dụng khắc quẻ thể là hung. Thể sinh dụng thì có hao tổn, dụng sinh thể thì có tin mừng. Thể và dụng ngang nhau thì trăm việc thuận lợi. Thể được sinh nhiều
cát nhiều; thể bị khắc nhiều thì càng hung. Quẻ dụng cát biến thành hung là trước cát sau hung. Quẻ dụng hung biến thành cát là trước hung sau cát. Bị khắc chỗ này thì được sinh chỗ khác, hoặc ngược
lại, tức là trong sinh lại gặp khắc. Bị khắc mà gặp sinh là trong khó khăn được cứu giúp, bị khắc vô sinh là khó khăn nhưng không có ai giúp.
Trước cát sau hung là ban đầu tốt sau xấu. Ví dụ quẻ "độn"; quẻ thượng là Càn, là kim, là thể; quẻ hạ là Cấn là thổ, là dụng. Thổ của quẻ dụng sinh kim của quẻ thể là tố. Còn quẻ Cấn nếu hào đầu động sẽ biến thành quẻ "thiên hỏa đồng nhân", quẻ thượng là Càn, là thể, là kim, bị quẻ hạ là Ly
là dụng, là hỏa khắc, cho nên trước cát



sau hung biến ra .
Trước hung sau cát là ban đầu xấu sau tốt. Ví dụ quẻ "thiên hỏa đồng nhân", quẻ thượng là Càn,
là kim, là thể; quẻ Hạ là Ly là hỏa là dụng. Hỏa của Ly khắc kim của Càn, tức dụng khắc thể, không
tốt. Nhưng hào chín đầu của quẻ Ly lại động, biến thành quẻ "độn", kim của quẻ thượng là Càn là thể được thổ của quẻ hạ là Cấn, là



dụng tương sinh, nên gọi là trước hung sau cát biến ra .
Quẻ có quẻ thể, quẻ dụng, lại chia thành đảng của quẻ thể và đảng của quẻ dụng. Đảng là cùng loại với quẻ thể, ví dụ quẻ thể là kim, quẻ hỗ của quẻ thể, quẻ biến của quẻ thể là kim tức là quẻ thể đảng nhiều. Quẻ dụng là kim; quẻ hỗ của quẻ dụng và quẻ biến của quẻ dụng đều là kim tức là quẻ dụng đảng nhiều. Quẻ thể đảng nhiều thì thế của quẻ thể thịnh; quẻ dụng đảng nhiều thì thế của quẻ
thể suy. Ví dụ:




quẻ "tráng" quẻ hỗ là quẻ "quải" (vì hào năm quẻ "tráng" động). Quẻ tráng này có quẻ
thể là càn, kim; quẻ dụng là chấn, mộc. Nay các quẻ biến của quẻ hỗ đều là kim, nên đảng của quẻ thể nhiều, thế quẻ thể thịnh, còn quẻ dụng suy.


3. Thời gian ứng nghiệm của quẻ

Sau khi thành quẻ, cát hung đã rõ. Nhưng thời gian ứng nghiêm của cát hung vô cùng quan trọng, nó liên quan đến kết quả thành bại của dự đoán. Ưng nghiệm chính xác sẽ tạo phúc cho nhân dân . lợi cho sự phát triển đất nước; không chính xác thì phải chịu trách nhiệm sai lầm với nhân dân
và đất nước.

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

Thời gian ứng nghiệm: xưa nay đều rất coi trọng nên được bàn luận rất nhiều. Có người lấy tượng quẻ để xác định thời gian ứng nghiệm, có người lấy số của quẻ, có người lấy hào của quẻ để
xác định. Dưới đây tôi xin đưa ra các phương pháp thường thấy và thường dùng để mọi người tham
khảo.
1) Căn cứ tượng quẻ để xác định thời gian ứng nghiệm.
Quẻ càn, Đoài thì ứng nghiêm ở Canh, Tân và ngày Kim, hoặc Càn ứng ở năm, tháng, ngày, giờ: Tuất, Hợi; Đoài ứng ở ngày, giờ Dâu. Chấn, Tốn ứng ở Giáp, At và ngày mộc hoặc Chấn lấy Mão, Tốn lấy Thìn. Khôn, Cấn thì ứng vào Mậu, Kỷ và ngày Thổ, Khôn lấy Thìn, Tuất; Cấn lấy Sửu, Mùi. Khảm ứng ở Nhâm, Quý và ngày Thủy, lấy Hợi, Tý. Ly ứng ở Bính, Đinh và ngày Hỏa lấy Tỵ,
Ngọ.
Quẻ Càn, Đoài thuộc Kim nên thành sự ở "Canh, Tấn và ngày Kim". Ngày kim là chỉ Kim trong
ngũ hành. Ví dụ: như Canh, Tấn, Thân, Dậu trong ngũ hành đều thuộc Kim, nên sự thành công và thời
điểm ứng sự của hai quẻ Càn, Đoài có thể đoán là ngày Canh, Tân, Thân, Dậu hoặc năm Canh, Tân, Thân, Dậu, hoặc các tháng có tên đó. Vì vị trí của Tuất, Hợi ở cung Càn, nên quẻ Càn ngoài các ngày, tháng, năm như trên còn có thể ứng vào giờ, ngày, tháng, năm: Tuất, Hợi.
Hai quẻ Chấn, Tốn thuộc Mộc nên ứng sự, thành sự ở năm, tháng, ngày, giờ: Giáp, At, Dần, Mão. Chấn còn có thể ứng ở Mão, Tốn có thể ứng ở năm, tháng, ngày, giờ Thìn.
Hai quẻ Khôn, Cấn thuộc Thổ, nên thời gian ứng sự và thành sự theo: năm, tháng, ngày, giờ:
Mậu, Kỷ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, hoặc Khôn ứng ở Thìn, Tuất; Cấn ứng ở Sửu, Mùi.
Quẻ Khảm thuộc Thủy, nên thời gian ứng sự và thành sự thuộc năm, tháng, ngày, giờ: Nhâm,
Quý, Hợi, Tý.
Quẻ Ly thuộc Hỏa, nên thời gian ứng sự và thành sự thuộc năm, tháng, ngày, giờ: Bính, Đinh, Tỵ, Ngọ.
2) Căn cứ số quẻ để định thời gian ứng nghiệm.
Chính ứng: là lấy số của hai quẻ thể và quẻ dụng để xác định thời gian ứng nghiêm. Ví dụ quẻ thượng là Càn, quẻ hạ là Khảm: Càn 1, Khảm 6 cộng lại là 7, có thể đoán 7 năm, 7 tháng, 7 ngày, hay
7 giờ.
Căn cứ số của ba quẻ: quẻ chủ, quẻ hỗ, quẻ biến để định thời gian: ví dụ: quẻ chủ là "tụng" là
số 7, quẻ "hỗ" là "gia nhân" là số 8, quẻ biến là "phủ" là số 9. Tổng ba quẻ cộng lại là 24 có thể đoán trong 24 năm, 24 tháng, 24 ngày, hoặc 24 giờ.
3) Xác định thời gian theo quẻ sinh của quẻ thể.
Quẻ thể được sinh thì cát, sự việc xảy ra nhanh. Nên phải xem số của quẻ sinh do quẻ thể quyết định thời gian ứng nghiệm. Ví dụ: Khảm là quẻ dụng sinh thể, khảm là số 6 nên có thể đoán: 6 năm, 6 tháng, 6 ngày, 6 giờ. Nếu quẻ hỗ sinh quẻ thể thì việc xảy ra từ từ; quẻ biến sinh quẻ thể thì chậm hơn. Nếu quẻ sinh thể lại biến thành quẻ khắc thể thì việc có trở ngại, không đủ thuận lợi. Ví dụ có quẻ khắc thể, không có quẻ sinh thể thì việc không thành. có quẻ sinh thể, không có quẻ khắc thể thì việc tốt.
4) Xem động tĩnh để đoán thời gian ứng nghiêm
Khi đoán thời gian ứng nghiệm cần xem người đoán quẻ động hay tĩnh để quyết định thời gian nhanh chậm. Người đến đoán quẻ luôn đi lại thì ứng nhanh, lấy số của quẻ chia đôi lấy 1/2. Ví dụ được quẻ Tốn là số 10, chia cho 2 thì được 5
Người đến đoán quẻ đứng thì thời gian ứng nghiêm là nữa châm, nửa nhanh. Ví dụ quẻ tốn là
10, thì nửa châm là 12,5 ngày, nửa nhanh là 7,5 ngày.

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

Người đến hỏi quẻ ngồi, thì lấy số quẻ mà đinh. Ví dụ được quẻ Tốn là 10 thì thời gian ứng nghiệm là 10
Người hỏi quẻ nằm thì càng chậm, nhân đôi số của quẻ lên. Ví dụ quẻ Tốn - 10 có thể đoán thời gian ứng nghiệm là 20.
Người động mà quẻ cát thì ứng cát nhanh, tức là trong động có tin mừng. Người động mà quẻ hung thì ứng hung cũng nhanh, tức có ý trong động có sự xấu. Người không động, cát hung khó thấy.
Ví dụ người đến hỏi quẻ không có biểu hiện vui buồn, từ bề ngoài không thấy hỏi việc lành hay dữ,
thì phải lập quẻ xong mới biết được.
Bát quái to vô cùng, nhỏ cũng vô cùng. Xa thì bao gồm hết vạn vật, gần thì chỉ có bản thân nó,
nên thời gian ứng nghiệm xa là năm, tháng, gần là ngày, giờ. Do đó khi đoán thời gian ứng nghiệm
cần căn cứ vào tình hình thực tế, không phân biệt rõ việc lớn, nhỏ; vật ngắn, dài mà nói một cách đại
khái thì nhất định sẽ sai lệch.


4. Mấy phương pháp đoán quẻ

Trên đời có muôn vật, người có muôn việc; muôn vật, muôn việc đều có chữ "lý". Trong quái tượng của Bát quái có âm dương biến hóa, âm dương tăng giảm, có sự phát triển biến hóa của sự việc,
có cái "lý" đối lập và thống nhất, có cái "lý" âm dương ngũ hành, tương sinh tương khắc, có cái "lý"
vua trị nước ra sao, người dân làm người như thế nào. Tóm lại cái "lý" của trời đất, sinh vật, vạn vật,
vạn sự đều trong bát quái cả. Nên "hệ từ" có câu: "Bát quái lấy tượng quẻ, tượng hào để nói", tức là
nói: việc anh định đoán, trong hào từ và tượng quẻ của bát quái đều đã viết rất rõ ràng, anh xem sẽ biết, cho nên "biết được tượng tức là lý đã ở trong đó".
"Lý" không những là nguyên tắc để "giải thích" và "chú thích" phải tuân theo, mà cũng là kim
chỉ nam để chỉ dẫn cho dự đoán. Nhất là khi quyết định kết quả dự đoán, "lý" đặc biệt quan trọng,
vận dụng tốt thì bách phát bách trụng, vận dụng không tốt thì sai từ đầu đến cuối.
Vì phương pháp gieo quẻ và nội dung của bát quái không ngừng được cải tiến và đổi mới nên
phương pháp đoán quẻ ngày càng hoàn thiện, càng khoa học, tính chuẩn xác ngày càng cao, nhưng cũng ngày càng phức tạp, độ khó của kỹ thuật rất cao, rất khó nắm vững. Dưới đầy đưa ra mấy phương pháp đoán quẻ khác nhau kết hợp các cách đoán xưa nay để so sánh, cung cấp cho mọi người
nghiên cứu, tham khảo.


1) Quẻ có 1 hào động

Phương pháp gieo quẻ xưa kia bằng cỏ thi, và lấy đồng tiền thay cỏ thi, trong 1 quẻ có lúc chỉ có
1 hào động, có lúc có nhiều hào động, thậm chí cả 6 hào đều động, nhưng cũng có lúc trong quẻ không có hào động nào. Quẻ có hào động là quẻ biến, ngược lại là quẻ không biến. Khi quẻ có hào động thì lấy hào từ của hào động để đoán, không có hào động thì lấy tượng quẻ để đoán. Cho nên trong "Hệ từ" có cấu: "Động thì xem sự biến của nó để đoán!".
Quẻ có 1 hào động là chỉ chuyên về một việc, nhiều hào động là sự việc lặp đi lặp lại, cho nên xưa kia thường lấy hào động làm chủ để đoán. Điều này trong lịch sử liệu như "Tả truyện", "Quốc ngữ" đều có chép.


1. Ví dụ cổ:

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

(1) "Tả truyện, Tuyên công năm thứ 20": Quân sự nhà Tấn đi cầu nhà Trịnh, đi đến giữa đường được tin Trịnh và Sở đã giảng hòa. Chủ soái là Tuần Lâm Phủ cho rằng không nên tiến quân nữa. Nhưng phó tướng là Tiên Cốc Cang Phục hiếu chiến, không nghe chỉ huy, tiếp tục tiến quân. Tri Trang tử (theo tác giả: Tri Trang Tử tức là Tuần Thủ, là người cùng họ với Tuần Lâm Phủ) đã gieo quẻ "lâm" của quẻ "sư", chỉ ra rằng: hào sơ của quẻ "sư" nói: "Sự xuất dị luật, phủ tàng hung" (theo
tác giả, câu này có nghĩa: quân đội xuất binh phải có kỷ luật, nếu vô quân kỷ thì cho dù thắng hay bại đều là hung). "Phủ" là ác, là hại; "tàng" là thiện, là thắng. Từ tượng của hào này là : "sư xuất dị luật, thất luật hung dã". Nên bảo Tiên Cốc: không phục tùng chỉ hy, vi phạm quân kỷ, tất sẽ chuốc lấy thất bại. Về sau quẻ nhiên quân Tấn đại bại ở nước Sở.
(2) "Tả truyện, Ai công năm 9" : Tống công đi chinh phạt Trịnh, Tấn Triệu Anh




cứu Trinh. Dương Hỗ đã dùng Kinh dịch gieo được quẻ "nhu" của quẻ "thái". Từ hào 5 của
"thái" nói: "đế ất quy muội, dị chỉ, nguyên cát", Dương Hỗ đoán: việc chinh phạt nhà Tống không tốt, kết quả đùng như thế!


2. Ví dụ ngày nay:

( 1) Ngày 9/8/1984, đồng sự của tôi có việc nhờ tôi đoán. Được quẻ "tụng" của



quẻ Khốn . Hào từ của 6 quẻ "khốn" nói: Khó khăn ở trong sự ràng buộc, lòng luôn lo lắng không yên, động hối, hữu hối. Chứng cát". Như thế có nghĩa là: tuy khó hối hận, nhưng hối hận được
thì sẽ tốt. Tôi nói với anh ta: "Anh vì có quan hệ nam nữ bất chính nên cảm thấy hối hận không kịp". Anh ta nói "đúng, có mọt quả phụ cứ bám chặt lấy tôi, tôi không thể thoát ra được, trong lòng luôn lo lắng, sợ tiếp tục phát triển sẽ xảy ra không tốt, làm sao bây giờ?". Tôi căn cứ quan hệ tương sinh, tương khắc khuyên anh ta ôn hòa giải quyết, nếu không thì tai nạn đang chờ. Anh ta nghe lời tôi và về
sau bình an vô sự.
(2) Ngày 27/7/1986, Ngô Hán Thu, người công ty tôi đã dẫn sư phụ Hầu đến nhà tôi nói muốn đi công tác, nhờ đoán xem có an toàn không? Tôi gieo được quẻ "tiệm" của quẻ "gia nhân". Từ hào đầu quẻ "gia nhân" nói: "nhàn hựu gia, hối chi". "Nhàn là phòng, tức đề phòng việc bị cướp". "Chu dịch
Gia nhân" nói: lấy hào sau mà đoán: trên cùng là cha, hào đầu là con, hào 5 và 3 là chồng, hào 4 và 2
là vợ, đây là tượng ngũ huynh tam đệ, là người nhà.
Căn cứ khí quẻ và hào tử sơ là hào động, nên tôi đoán: Căn bản không phải là đi công tác mà là
con trai của ông phạm pháp về việc cướp giật. Ong ta nói: "đúng, đúng! Chính là con tôi vì cướp giật
mà bị bắt. Ong xem có cách gì cứu giải được không?" Tôi nói: "Con ông có 2 lần bị họa phải giam, ông nên chịu giam chứ đừng chịu phạt. Lần này nhiều nhất là giam 1 năm, để cho nó nếm mùi gian khổ, giáo dục, thì lần sau may ra có thể trách khỏi, nếu không sẽ phạm nặng hơn". Nhưng rất đáng
thượng cho tấm lòng của cha mẹ, sư phụ hầu đã chịu phạt tiền để cứu con về. Hậu quả là năm 1987
con ông lại phạm tội cướp giật bị giam 7 năm. Sư phụ Hầu hối hận vì đã không nghe lời tôi nên nay
đã rơi vào cảnh tay trắng nhà không (theo tác giả trong thời gian bị giam con ông lại phạm lần nữa, nên bị tăng thêm 3 năm).

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

2. Tượng quẻ

bát quái bao la vạn tượng, bao hết vạn vật trong đó. Lấy tượng quẻ mà đoán việc cho rõ, có tượng là đã rõ được sự việc. Cho nên căn cứ tượng quẻ đoán cát hung là một trong những phương pháp đoán quẻ thường dùng nhất.


1. Ví dụ cổ:

(1) "Quốc ngữ, Tấn ngữ". Trọng Nhĩ là công tử nước Tấn bị đuổi ra khỏi tấn 19 năm. Thái Mục
Công quyết tâm đem binh lực giúp Trọng Nhĩ trở về chiếm lại quyền



hành. Để dự đoán lành dữ, Đổng Nhân đã lấy quẻ cho Trọng Nhĩ, được quẻ "thái"
Đổng Nhân căn cứ tượng quẻ nói rằng: "là thiên địa phối". Thái là địa ở trên, thiên ở dưới, có thiên
khí giáng xuống, địa khí thăng lên, có thiên địa thông nhau đó là tượng sinh vạn vật, là thời cơ tốt để được nước, được dân. Về sau Trọng Nhĩ quả dành được chính quyền xưng là vua nhà Tấn, tức là Tấn Văn Công, một trong những ngũ bá thời Xuân Thu.
(2) "Quốc ngữ, Chu ngữ". Tấn Thành Công lưu vong ở Chu, Tấn Triệu Xuyên đón Thành Công
về làm vua nhà Tấn. Trước khi lên đường người Tấn đã đoán quẻ:




được quẻ "phủ" của càn . Người Tấn căn cứ tượng quẻ của hai quẻ "phù, càn" nói: "Càn là trời,
là vua", trời trên vua dưới, có được tượng vua phối với trời, nhưng quẻ hạ cũng là quẻ càn, từ càn biến thành khôn, quân biến thành thần, là "phối mà không chấm dứt". Đó là lấy tượng quẻ của quẻ chủ và quẻ biến để đoán cát hung.


2. Ví dụ ngày nay:

(1) Ngày 4/51987 khi tôi ở Bắc Kinh, Đinh Tiêu Tiêu và mẹ ông cầm tờ Bắc Kinh nhật báo đến
hỏi tôi. Trên báo nói: năm nay ở Bắc Kinh vào giao thời mùa hạ mùa thu có nạn lụt, yêu cầu tăng cường đề phòng. Muốn tôi đoán xem có đúng hay



không. Lúc đó tôi đoán được quẻ cấn . Tôi xem cả hai quẻ thấy có thổ vượng nên nói: Bắc Kinh năm nay quyết không có lụt. Về sau quẻ đúng như thế.
(2) Chiều ngày 28/2/1985 ngài Thái Ngọc Quý đến nói: có một đồng sự ở cơ quan ông ta ngày
24 nhận được điện báo của vợ nói ngày 26 vợ đến Tây An. Hôm nay đã là 28 rồi mà không thấy đến, không hiểu trên đường vợ con có xảy ra việc gì không, rất lo lắng. Tôi đoán được quẻ "Dự" của quẻ "Khôn". Vì khôn là đại dự, là nhiều người, dự cũng là xe, cũng là cảnh của nhiều người. Khô thổ có nghĩa là: nằm im. Tôi nó: Bình yên vô sự, chẳng qua vì người đông xe chật, nên không đi được. Ngày
1/3 có thể đến. Quả nhiên vì nhiều người xe ít, nên mồng 1 tháng 3 vợ con mới đến được Tây An.


3) Nghĩa lý

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

Căn cứ vào nghĩa lý của quẻ mà đoán là một trong những phương pháp phổ biến xưa nay đều dùng. "Nghĩa lý" tức là hàm nghĩa của từ quẻ, từ hào, tượng quẻ kết hợp với tình hình thực tế cụ thể
để đoán cát hung. Đó chính là lý luận liên hệ thực tế, bắn tên có đích. Phương pháp này rất khó, không dễ nắm vững, nhưng người xa vô cùng coi trọng. Thiệu Khang Tiết nói: số muôn nói được đúng
cần phải có lý luận kèm theo. Chỉ dựa vào số mà không dựa vào lý thì chỉ thấy vấn đề mà không nghiệm được vấn đề. Ví dụ như đoán về việc ăn uống được quẻ Chấn, chấn là long. Theo lý luận mà
nói không thể bắt được rồng, cho nên nói về ăn uống phải lấy cá chép mà thay vậy. Lại ví dụ đoán về thời tiết mà được quẻ chấn tức mùa đông không có sấm... đó tức là căn cứ vào tình hình thực tế, tức là phóng tên có địch, nếu không sẽ phạm phải chủ nghĩa giáo điều hoặc kinh nghiệm chủ nghĩa.


1. Ví dụ cổ:

(1) "Tả truyện, Chiêu công năm thứ 12": Nam San là Lộ Quý, một viên quan ở nước Lỗ, ông ta muốn phản bội nhà Lỗ đầu hàng nước Tề. Trước khi hành sự đã gieo quẻ, được quẻ "tỷ" của quẻ "Khôn". Lời từ hào 5 của quẻ khôn nói : "Hoàn thương nguyên cát", ông ta phấn khởi cho rằng đó là tượng đại cát, liền đưa quẻ cho 1 chuyên gia dịch học Tử Phục Huệ Bá xem. Nam San nói, tôi có việc, ông xem nó sẽ thế nào? Huệ Bá nói: nếu là việc của quẻ trung tín thì có thể được, còn nếu là việc xấu thì không thành, tất bại. Huệ Bá đem câu "hoàng thường, nguyên cát" giải thích cho Nam San nghe: Hoàng là sắc ở trong, thường là trang sức, nguyên là lòng thiện. Bên trong không trung thành,
thì không được sắc của nó ..., tức là nói không đầy đủ những phẩm chất cao thượng, không có lòng trung thiện thì việc trong quẻ là xấu tức là dù có được quẻ tốt cũng xấu. Nam San không nghe lời khuyên của Hệ Bá, quả nhiên thất bại!
Ngài Lý Kính Trì cho rằng: Huệ Bá sở dĩ đoán đúng là vì còn có một nguyên nhân khác, đó là
Huệ Bá thấy Nam San ấp a ấp úng nên biết đó không phải là điều ngay thẳng (theo "Chu dịch thám nguyên"). Điều đó phù hợp với "hệ từ" là: theo người được đoán lo lắng mà đoán. Nhưng tôi (tác giả)
cho rằng cần phải chú ý một nguyên nhân nữa: Huệ Bá đoán đúng là vì hào 5 của quẻ Khôn tuy ở giữa nhưng không được ngôi. Hào 5 là thiên tử, đáng lẻ ngôi dương, nay ngôi âm lại chiếm, tức là không được chính ngôi, không chính tất nhiên là việc ác. Hơn nữa khôn là thổ có nghĩa là bất động, nếu manh động tất sẽ thất bại. Nên Huệ bá nói "bên trong khong trung thì không được sắc của nó". Không trung chính thì không được sắc chân chính của hoàng bào.
(2) "Luận Hàng. Chiêm bốc thiên": Tướng nước Lỗ chinh phạt nước Việt. Tử Cống đoán được
qử "cổ" của quẻ "đỉnh". Hào 4 động, lời từ của nó nói: đỉnh gẫy chân, hung. Tử Cống nói: đi thì phải dùng chân, nay chân gãy là hung vậy. Khổng Tử lại nói là cát vì: "người Việt ở dưới nước, lúc đi dùng thuyền, không dùng chấn, cho nên gọi là cát. Nước Lỗ đánh nước Việt quả niên thắng". Tiêu chuẩn chân lý chỉ có thể là thực tiễn của xã hội. Khổng Tử đã căn cứ vào nước Lỗ đánh nước Việt là tiến công từ đường thuỷ chứ không từ phía lục địa, nên dùng thuyền mà không dùng chân đó là căn cứ vào thực tế mà đoán. Nên quái thuật của Khổng Tử cao hơn.
(3) "Mai hoa dịch số": Tích về Lý Hanh Phong đoán về hai con ngựa đen và đỏ




rơi xuống sông, có người hỏi con nào sẽ lên trước? Có người bốc được quẻ "ly"

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

nói: "Ly là lửa, lửa màu đỏ, nên con ngựa đỏ lên trước". Nhưng ông Lý nói: "lửa chưa bùng đã bốc khói, nên ngựa đen lên trước". Quả nhiên như thế. Đó là Lý Hanh Phong đã căn cứ khi lửa cháy, đầu tiên thấy khói sau đó mới thấy lửa để đoán, nên đúng.
(4) "Mai hoa dịch số" : Giờ Dậu tháng 11, Thiệu Khang Tiết và con trai nhóm lò, có người gõ cửa, lân đầu 1 tiếng rồi thôi, sau đó lại gõ 5 tiếng hỏi mượng cái gì đó. Khang Tiết gieo quể thử đoán xem họ mượn cái gì. Được quẻ "Tốn" của quẻ "Cấu". Con ông nói: "Kim đoản mộc trường, đó là dụng cụ, chắc là mượng cuốc". Khang Tiết nói: "Không phải đâu, chắc là mượn rùi". Liền mở cửa hỏi, quả nhiên là mượn rìu! Con ông hỏi vì sao lại đoán thế? Ong Tiết nói: "Đoán quẻ phải rõ lý. Theo quẻ mà đoán thì rìu cũng đúng mà cuốc cũng đúng, nhưng lấy lý mà suy đã chiều tối thì mượng cuốc làm gì, chắc là mượn rìu để bổ củi. Cho nên căn cứ số của quẻ mà đoán còn cần phải rõ lý nữa,
đó là điều rất cần thiết khi đoán quẻ".
(5) "Chu dịch, Cổ phệ khảo". Kỷ Hiểu Phượng người nhà Thanh trước khi đi thi bói được quẻ "khốn", hào 6 động: "Khốn ư thạch, cứ ư tật lê, nhân ư kỳ cung, bất biến kỳ thê, hung". Thấy bói xem xong nói là không tốt, Kỷ lại cho rằng mình chưa lấy vợ làm sao có thể nói: "Bất kiến kỳ thê, hung"?. Anh ta lại nói: "khốn ư thạch" có thể là người dứng tên thứ nhất họ Trạch hoặc tên họ anh ta có chữ Thạch bên cạnh, còn tôi có thể là người đõ thứ hai. Về sau quả đúng như thế! Lại còn có người nói, nếu bói đựoc quả phụ mẫu hung, nhưng bố mẹ anh ta mất từ lâu thì còn phụ mẫu hung gì nữa. Chính
là Kỷ Hiểu Phượng đã căn cứ vào tình hình thực tế của mình là chưa lấy vợ mà đoán nên kết luận chính xác. Từ cách dụng thần của quể Khốn thì thấy thần phúc sinh thế, lại có quan thế tương sinh, đó
là tượng được công danh, cho nên thi đỗ.


2. Ví dụ ngày nay:

Ngày 23/7/1986, ngài Lương Kiến mang đến cho tôi quẻ mà ông ta đoán cho 1 người phụ nữ vào Canh Thân tháng 4 trước đó, đó là quẻ "đoài" của quẻ "Tuỳ". Hào từ sáu hai của quẻ đó nói: "Hãy còn nhỏ, mất chồng". Nhờ tôi giải quẻ này xem là việc gì và lành hay dữ? Tôi xem hào động của quẻ này và quẻ hóa khắc trở lại, nên nói: "người phụ nữ này đoán về việc em gái của bà ta bị chết, bây
giờ xem kiện tụng có thắng được hay không". Ngay tại trận ông Lương kinh ngạc nói: "Đúng! Em gái
bà ta vì bị tai nạn trong nhà máy mà chết và đang đi kiện. Nhưng hào từ rõ ràng nói là : "hãy còn nhỏ, mất chồng", vậy nên đoán là việc của chồng bà ta mới đúng, sao ông lại đoán là việc của cô em gái?
Tôi nói: điều này rất đơn giản, hào huynh đệ sáu hai ở ngôi âm là chính ngôi lại hóa thành quẻ "đoài", đoài là thiếu nữ nên nhất định là em bà ta! Trong quẻ đoài nhiều, đoài là cãi vã nên là việc kiện tụng.


4) Lý số

Quẻ thì có số, đoán quẻ cũng có số. Trong quẻ, số quẻ và số hào đều tiêu biểu cho cự ly, số lượng, trọng lượng, độ cao, độ sâu, độ rộng, thời gian... Lấy số để đoán sự ứng nghiệm của quẻ gọi là "Lý số". Cho nên "Chu dịch tiên thuật" có cấu: "Biết được tượng thì lý số của nó đã ở trong đó".
Dùng số để đoán quẻ trong sử liệu của các sách "Tả truyện" "Quốc ngữ" chưa thấy có, nhưng từ
sau triều Tống thì đã có. Tôi trong khi đoán cũng thường căn cứ số để dự đoán kết quả và thấy rất thích hợp.

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

1. Ví dụ cổ:

(1) "Mai hoa dịch số": Thiệu Khang Tiết giờ Mão ngày Kỷ Sửu gặp một ông già đi từ phương Tốn lại, sắc thái lo âu, hỏi vì sao mà ông lo? Ong già nói: không. Thiệu Khang Tiết lấy làm lạ liền gieo được quẻ "Cấu" có hào chín bốn động, lời từ của hào đó nói: "Bao vô ngư, hung". Khang Tiết
nói với ông già: trong vòng 5 ngày ông ra vào phải cẩn thận, e có đại họa. Quả nhiên đúng ngày thứ
5, ông già đi ăn cỗ bị hóc xương cá mà chết!
Nguồn gốc số 5 của quẻ này là: Càn 1, Tốn 5, giờ Mão là 4, chia cho 2 mà ra ( 1 + 5 + 4 chia
cho 2 = 5). Khang Tiết nói: Nếu hành động thì ứng nhanh, nên phải lấy số của quẻ chia đôi lấy 1 nửa. Nên đoán trong vòng 5 ngày là vì thế
(2) Sách "Chu dịch cổ phệ khảo". Hồ Phấn và Viên Kỷ Sơn đời nhà Minh hai người đi chơi Kim lăng để thăm quan chủ. Quan chủ vì mất một cái cốc bằng vàng nên nghi cho người ở ăn cắp, đánh đập tra khảo. Hai người thấy thế liền bói được quẻ "Di" của quẻ "Bóc". Hai người báo với quan chủ
là chén vàng không mất, nở phía Tây Nam góc tường của ông, đào sâu 5 tấc thì sẽ tìm được. Quả đúng như quẻ bói. Nguồn gốc của số 5 là như sau: trong 8 cung của phép nạp giáp Khôn ở cung thứ 5, nên mới nói đào 5 tấc. Nhưng theo kinh nghiệm thực tế của tôi còn có 3 chỗ có thể giải thích như thế: một là "hành động thì ứng nhanh". Lúc đó quan chủ đánh người ở có lẽ là vì truy bắt, nên nhanh lại nhanh quá. "Bóc" chính là số 15, chia 3 được 5; thứ hai là số của "bóc" trừ đi số của "di" cũng được
5. (7 + 8 = 1) - (7+ 4) = 5. "Mai hoa dịch số" có nói: "Quẻ thể và quẻ dụng ngang nhau thì vật không mât". "Cấn" là thổ là sơn, có nghĩa là bất động, nên chén vàng không mất.


2. Ví dụ ngày nay:

(1) Giờ Thân, ngày 19 tháng 10 - 1983, sư phụ Mạnh ở phân xưởng 32 của nhà máy tôi nói là
vợ ông ta đi ra ngoài buôn bán đã hơn 1 tháng mà biệt vô âm tín, nhờ đoán xem có an toàn không và
khi nào về. Tôi gieo được quẻ "Vô vọng" của quẻ "lý". Tôi an ủi ông ta và nói: vợ ông ở phía tây nam, bình yên, có cãi vã, nhưng vẫn vô sự. Trong vòng 5 ngày, nếu chưa về thì sẽ có thư, nếu không
có thư thì nhất định phải về. Đến chiều ngày thứ 5 ông Mạnh báo: vợ vẫn chưa về, cũng chẳng có thư
xin nhờ đoán lại. Tôi bảo: không cần, ông cứ về chờ tin tức. Khoảng hơn 3 giờ chiều, ông nói là đã nhận được điện báo của vợ từ Thành Đô báo về dặn hôm sau ra ga đón. Về sau hỏi quẻ đúng như đoán!
Tôi đoán : 5 ngày thì trở về là vì lấy số của quẻ để đoán cụ thể là : 1 + 2+ 2 =5, tức Càn 1, đoài
2, hào động 2.
(2) Tháng 4/1987 khi tôi đang ở Bắc Kinh để giảng bài cho lớp nghiên cứu Kinh dịch lần thứ 4 tổ chức trong toàn quốc, chiều ngày 13 tháng 4 giữa giờ giải lao, nữ học viên Trượng Lập Mẫu nói: Thầy Thiêu, tôi có một đồng sự sắp đi công tác nhờ đoán xem khi nào có thể đi được. Tôi gieo được quẻ "Cấn" hào đầu động.
"Cấn" là sơn là thổ, là tượng bất động. Cấn là số 7, hào sơ là 1, cho nên (7+ 7+ 1) :2 = 7,5. Tôi nói: "trong vòng 7,5 ngày không đi nổi". Bà ta nói: "Đúng! Ong ta chuẩn bị sau ngày 20 thì đi. Mọi
người ở đó vô cùng kinh ngạc.


5. Am dương ngũ hành sinh khắc

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

Học thuyết âm dương ngũ hành là kinh nghiêm quý báu của nhân dân lao động nước ta qua thực tiễn xã hội lâu dài mà tổng kết ra, người xưa đã lấy vạn vật trong thế gian chia thành âm dương, còn
kim, mộc, thủy, hỏa, thổ là những chất cơ bản cấu tạo thành thế giới. Lý luận âm dương ngũ hành sinh
khắc, chế hóa không những đã thúc đẩy các lĩnh vực khoa học như thông tin, triết học, quân sự, hóa học, vật lý, nhân thể học, trung y, thiên văn học phát triển mà cho đến nay vẫn còn có tác dụng chỉ đạo to lớn sự nghiệp phát triển khoa học của nước ta. Đem lý luận âm dương, ngũ hành, sinh khắc, chế hóa đưa vào bát quái, dùng để dự đoán thông tin nhân thể là phù hợp với luận điểm nổi tiếng của "hệ từ": "Quảng đại phối thiên địa, biến thông phối từ thời, nghĩa âm dương phối nhật nguyệt" (âm dương có khắp mọi nơi, khắp mọi lúc).
Vạn vật trong trời đất đều thống nhất ở âm dương ngũ hành. Người cũng là một loài trong đó, đương nhiên cũng chịu sự chi phối và chế ngự của nó. Nên "tứ thời âm dương là căn bản của vạn vật". Hợp nhân hình thì lấy phép tứ thời ngũ hành mà trị, ngũ hành là kim mộc, thủy, hỏa, thổ, vừa tầm thường vừa cao quý, lấy biết sinh, tử để quyết đoán sự thành bại". ("Tổ vấn"). Am dương ngũ hành có quyền chủ tế sinh sát vạn vật. "Ngũ vận âm dương, thiên địa hợp sự, kỷ cương của vạn vật là phụ mẫu của sự biến hoá, là nguồn gốc của sự sinh sát, là trung tâm của thân linh, điều đố không thể
không biết". Sách còn nói: "Sự hoà hợp của thiên địa, trong lục hợp không thoát khỏi ngũ hành và
con người". ("Tổ vấn"). Như thế rất rõ: sự vận động của âm dương, ngũ hành trong vũ trụ đã dần đến
sự biến hóa, không những có ảnh hưởng đối với con người mà còn quyết định sự tồn vong, sinh tử của
con người. Cho nên nói: lấy âm dương ngũ hành lồng vào bát quái, thông qua tính toán, có thể đoán được tình hình âm dương ngũ hành sinh khắc, chế hoá trong các thông tin để quyết định sự thành bại
của sự việc.
Dùng nguyên lý âm dương ngũ hành sinh khắc chế hóa đoán quẻ đã có lịch sử hơn ba nghìn năm, thực tiễn chứng minh là chính xác. Cơ sở khoa học của nó rât sâu. Theo nguyên lý này mà đoán
quẻ thì cả 64 quẻ, không thể nói quẻ nào là tốt, quẻ nào là xấu, mà là căn cứ theo ngũ hành sinh,
vượng, tử, mộ của khí quẻ và tượng hào làm chủ. Khí quẻ vượng, tượng hào vượng, dụng thần, hào
thế, hào ứng vượng mà tương sin là tốt, nếu rơi vào tử địa mà bị khắc thì không tốt. Nếu quẻ tốt, khi quẻ, tượng hào, hào thế, hào ứng, dụng thần lại vượng thì rõ ràng gấm còn được thêu hoa.


1) Ví dụ cổ

(1) "Tả truyện - Tương công năm thứ 9". Mẹ của Lỗ Thành Công là Mục Khương và quan đại phu Kiều Như thông gian, cùng âm mưu phế bỏ ngôi của Thành Công. Kết quả bị bại lộ, Mục Khương
bị nhốt vào lãnh cung. Bà muốn biết vận mệnh mình ra sao nên đã bói được quẻ "tuỳ" của quẻ "cấn". Quan lại bỏ quẻ chủ "là quẻ "cấn") không dùng mà chỉ dùng quẻ "tuỳ", trong đó có câu "tuỳ, vô cớ vậy". Ong nói với Mục Khương phải mau trốn thoát. Mục Khương lấy quẻ "tuỳ" có cấu: "nguyên hanh lợi trinh, vô cữu" tức là tôi không đủ cái đức của nguyên hanh lợi trinh. Tôi là một phụ nữ, tự chuốc lấy tội ác, làm việc có hại đến mình, loạn quốc hại dân, làm sao lại không có tai họa được, nên đành chết ở đây, sao có thể trốn thoát được. Về sau đúng như thế! Bây giờ ta hãy lấy quẻ đó để kiểm nghiệm lại bằng phép 6 hào ngũ hành sinh khắc thì sẽ biết Mục Khương chạy không nổi, tất sẽ chết ở
đó.
QUẺ CHỦ "CẤN" QUẺ BIẾN "TUỲ"

Quan quỷ dần mộc O thế
Huynh đệ mùi thổ... ứng
Thê tài tý thủy x Tử tôn dậu kim.

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

Huynh đệ tuất thổ x Thê tài hợi thủy.
Tử tôn thân kim O ứng Huynh đệ thìn thổ ... thế
Phụ mẫu ngọ hỏa ... Quan quỷ dần mộc...
Huynh đệ thìn thổ x Thê tài tí thủy.
1/ "Cấn là sơn, là đình chỉ, là thổ, là tượng bất động, cho nên chạy không nổi.
2/ Trong quẻ "chủ" có 5 hào động, nội ngoại đều động, hào động nhiều làm chủ về việc không thuận.
3/ Mục Khương là nữ nên âm phải ở ngôi âm, nay hào thế hào dương động ở ngôi âm, nên không trung, ngôi lại bất chính. Không trung, không chính đó là người có mầm ác. Ngôi của hào thế
lại ở cực địa, ngôi đã cực thì tất sẽ đi xuống.
4/ Hào thế dần mộc là Mục Khương, hào ứng thân kim là con bà (Thành Công) đúng là con khắc mẹ, con hình phạt mẹ nên con của bà nhốt bà vào lãnh cung.
5/ Háo thế dần mộc hóa mùi thổ, mùi thổ là mộ địa của mộc. Mộ là lao ngục, cho nên Mục
Khương bị tù và phải chết ở đó.
Trong sách sắp xếp 6 hào ban đầu của ví dụ này, lục thân của quẻ biến như phụ mẫu, huynh đệ,
v. v. ... đều nên theo ngũ hành của quẻ chủ đế biến.
(2) "Tả truyện - Tương công năm thứ 25": Tề Đường Công sau khi chết, Thôi Vũ Tử đi điếu, nhìn thấy vợ của Đường Công rất đẹp, muốn lấy làm vợ. Dùng Chu dịch để bói, gieo được quẻ "đại quá" của quẻ "khốn". Người bói nói cát. Trần Văn Tử (theo tác giả tức Trần Tu Vô, sĩ tề tráng công
là quan đại phu, có công, lấy thuỵ là Văn Tử). Nói là không "cát". Thôi Vũ không nghe vẫn cưới vợ
Đường Công làm vợ. Đương nhiên là người bói đoán về quẻ này sai.

QUẺ CHỦ "KHỐN"
QUẺ BIẾN "ĐẠI QUÁ"
Phụ mẫu mùi thổ.. Phụ mẫu mùi thổ... Huynh đệ dậu kim. Huynh đệ dậu kim.

Tử tôn hợi thủy. Ưng
Tử tôn hợi thủy.thế
Quan quỷ ngọ hỏa x Huynh đệ dậu kim.
Phụ mẫu thìn thổ. Tử tôn hợi thủy.
Thê tài dần mộc ... thế Phụ mẫu sửu thổ .. ứng.
1/ Quẻ ngoại của khốn là đoài, là thiếu phụ. Quẻ nội là khảm, là trung nam thì không phải là chính phối (thiếu nam với thiếu nữ là chính phối), không chính phối thì không cát, lại "đại quá" hóa khắc, hào thế hào ứng cũng khắc nên không tốt.
2/ Hào thế dần mộc là Thôi Vũ, hào ứng là Đường thê (vợ Đường Công), ứng và thế tương hợp, nên tuy có thể thành hơn nhưng là điềm hung.
Những ví dụ trên đều có thể dùng âm dương ngũ hành và phép "nạp giáp" để kiểm tra, kết quả
của chúng đúng đều là như thế cả. Từ hai thí dụ trên có thể thấy rõ: từ thời Xuân Thu đến đời Hán kéo dài hơn 4.000 năm, ta thấy cách lấy quẻ là giống nhau, nhưng cách đoán quẻ thì khác nhau, song
kết quả lại như nhau, đó không phải là sự trung hợp ngẫu nhiên, mà nó chứng tỏ dùng âm dương ngũ
hành để đoán quẻ là thiết thực và có thể được.


2) Ví dụ ngày nay:

(1) Ngày 2 tháng 1 năm 1948, Ngô Hán Thu ở nhà máy tôi đưa vợ của Ngưu Thuần Phủ đến nói
từ 2 giờ rưỡi chiều hôm qua, sau khi tan ca thì con đi đâu mãi bây giờ chưa thấy về, muốn hỏi xem khi nào trở về? Gieo quẻ được quẻ "đoài" Tôi nói: đây là con gái, hồi còn nhỏ bị mắc bệnh để di chứng đến nay, cháu đi về phương nam. Vì quẻ thể và quẻ dụng nganh nhau nên tôi lại nói: "Trước 8h30' tối nay nhất định cháu sẽ về".
Đến tối 7g45' ông Ngô lại đưa vợ chồng Thuận Phủ đến tôi nói là con chưa về và nhờ đoán lại.
Tôi nói: chưa đến 8g30', nếu không về thì tôi xem lại cũng chưa muộn. Đến 8g15', tôi nói: các anh
chị về xem sao. Hai vợ chồng họ vừa xuống hết cầu thang thì có người nhà đến báo tin: là con gái đã
về nhà lúc 8g10'
(2) Cô Triệu Thế Lan ở xưởng tôi trước đây có việc đã nhờ tôi đoán 5 lần đều đúng cả. Lần này khoảng hơn 1 giờ chiều ngày 23/3/1988 đến nhà tôi. Nhìn thấy dáng vội vạng hấp tấp của chị tôi biết
lại có việc tìm tôi. Cô ấy nói: "Trưa nay tôi và chồng tôi mời khách ăn cơm ở khách sạn, lúc đó cái áo
dạ mới của chồng tôi để trên ghế, ăn cơm xong đi rửa tay, quay trởi lại thì không thấy nữa. Tìm khắp
nơi vẫn không thấy. Tôi phải tiết kiệm lâu năm lắm mới mua được cái áo đó, thế mà bây giờ lại mất, thật rủi ro qua!". Tôi gieo được quẻ "tốn" . Quẻ thể và quẻ dụng ngang nhau, tức là "vật không mất". Tôi an ủi nói: "Thôi đừng buồn nữa, trước 7g tối hôm nay sẽ thấy áo. Nếu không thấy thì hãy khóc cũng chưa muộn". Cô Triệu thất vọng nói: "Thời buổi bây giờ bọn cướp ngày đầy rẫy, áo mất rồi lại còn mong được lại, làm gì có chuyện ấy". Kết quả 6g30 tối một vị giám đốc nhặt được ái này đã đưa đến trả.
(3) Ong Vương Song Ngân xưởng tôi nói: giờ Mão ngày 10 tháng 11/1987 xe đạp
bị mất cắp, hỏi có thể tìm lại được không? Gieo được quẻ "cấu" . Quẻ này dụng khắc thể, tôi nói: không tìm việc nhờ đoán, ai đoán được sẽ trả tiền đây". Có 2 người xem quẻ nói với cụ già: "chúng tôi đoán được". Cụ già rất phần khởi.
Hai tiếng đồng hồ sao, tôi làm xong việc trở về, thấy ông già vẫn cầm 5đ trong tay. Tôi đoán là chưa ai đoán đúng. Tôi định đi, nhưng Viên Đôn Kiệt - bạn tôi, nói với cụ già: "ông nhờ thầy Triệu đây đoán xem". Cụ già nghe lời xin tôi đoán. Tôi nói: "Họ đoán cho cụ không sai, vì sao cụ chưa vừa lòng?" - "Hai người đó đều đoán rất tốt, nhưng việc chính hôm nay của tôi thì họ lại không đoán được
câu gì!"
Tôi nói: "để tôi thử xem". Gieo được quẻ "khiêm" .
QUẺ CHỦ "KHIÊM"
QUẺ BIẾN "KHÔN" LỤC THẦN
Huynh đệ dậu kim ... Huynh đệ dậu kim ... thế Huyền vũ

Tử tôn hợi thủy... thế
Tử tôn hợi thủy...
Bạch hổ

Phụ mẫu sửu thổ... Phụ mẫu sửu thổ...
Phi xà
Huynh đệ thân kim... Thê tài mão mộc...ứng Câu trần

Quan quỷ ngọ hỏa...ứng
Quan quỷ tỵ hỏa...
Chu tước
Phụ mẫu thìn thổ... Phụ mẫu mùi thổ ... Thanh long

Tôi xem quẻ kin ngạc nói: "Thưa cụ, con trai cụ phạm pháp, đang bị giam là điềm tội chết. Nhưng không sợ, đang có anh nó cứu, không chết được đầu. Cụ phải mất trên dưới 1.000đ". cụ già nghe xong vừa kinh sợ và mựng: "Thầy Thiệu ạ, thầy đoán rất đúng, con trai tôi kẹp chết 1 bà già bên cạnh, phí an táng mất 960đ. Bây giờ cả nhà đương lo nó có bị tử hình hay không, nên tôi muốn đoán quẻ này. Nghe thầy nói có người cứu không chết, tôi rất mừng. Hiện nay hai anh của cháu đang khiếu
nại tòa án. Tên tôi là Vương Vĩnh Sơn, người thành phố này, rất muốn mời thầy đến nhà dùng bữa cơm thân mật". Nói xong cụ già nhét vào túi áo tôi 5đ. Tôi nói: tôi không đoán để lấy tiền, cụ cứ cầm
lại tiền đi! Về sau báo tòa án thành phố Tây An đã đăng tin này, bản án hoãn tử hình 2 năm để tra cứu, xem xét tiếp.
1/ Hào thế hợi thủy, hào ứng ngọ hỏa là quan quỷ tương khắc. Quan quỷ ngọ hỏa đắc địa, lâm nhật kiến, còn hợi thủy tử tôn lại ở vào đất hưu tù, vô lực. Ngược lại còn bị quan quỷ ngọ hỏa khắc nên là tai nạn về việc kiện tụng.
2/ Các sách đều nói: "Thủy tù ở tháng chín, tuất, sửu, mùi ". nay hào thế tử tôn hợi thủy tù ở nguyệt kiến mùi thổ, vì là hào tử tôn, nên con trai bị giam.
3/ Câu trần động khắc hào thế hợi thủy, nên nó chủ về tai họa lao ngục.
4/ Hai quẻ đều là thổ, lâm nguyệt kiến, nhật sinh, trùng khắc tử tôn hợi thủy nên là điềm chết.
5/ Hào huynh đệ thân kim ở "quan đái" lại lâm hào động, sinh cho hào thế hợi thủy nên là tượng cứu giúp.
(5) 3 giờ chiều ngày 31/12/1985, Trương Thành biết tôi đã từng đoán đúng ngày 28/12 đội nữ bóng chuyền của ta thắng liên đội Ngôi sao thế giới, nói: "Thầy Thiệu, hôm nay ở Thượng Hải đội nữ bóng chuyền của ta lại đấu với đội nữ bóng chuyền thế giới, thầy thử đoán xem ai thắng?". Tôi gieo được quẻ "đoài" của quẻ "lý".
QUẺ CHỦ "LÝ" QUẺ BIẾN "ĐOÀI"

Huynh đệ tuất thổ
Huynh đệ tuất thổ... thế
Tử tôn thân kim.thế Tử tôn dậu kim. Phụ mẫu ngọ hỏa. Thê tài hợi thủy.
Huynh đệ sửu thổ... Huynh đệ sửu thổ..ứng
Quan quỷ mão mộc.ứng Quan quỷ mão mộc. Phụ mẫu tỵ hỏa. Phụ mẫu tỵ hỏa.
1/ Hào thế tử tôn thân kim là đội nữ của ta, ngôi 5 ở ngôi vua được chính, được trung. Tuy nhiên
tử tở tý thủy của nguyệt kiến là tượng không lợi. Nhưng được nhận thìn vào hào cửu thượng tuất thổ động để sinh thế, nên đã chuyển bại thành thắng.
2/ Hào ứng quan quỷ mộc là đội Ngôi sao thế giới, được sự trợ giúp của Tý thủy nguyệt kiến là tượng có lực mạnh. Cho nên hôm nay so với trận ngày 28 sẽ càng ngoan cường hơn, nhưng là thế trước thắng sau bại.
3/ Mão mộc của đội ngôi sao tuy lâm nguyệt kiến nhưng lại ở đất tuần không nên việc không thành, lại bị hào thế thân kim thần phúc khắc nên thất bại là chắc chắn. Do đó đội ta sẽ chuyển bại thành thắng.
Khi séc thứ 5 đội Ngôi sao đã dẫn đầu 8/2, Trương Thành nói với tôi: "Thầy Thiệu ạ, lần này thì thầy sai rồi, đoán lại xem sao!". Tôi nói: "Không cần đoán. Tôi đã viết những điều này lên giấy rồi,
đội ta nhất định sẽ chuyển bại thành thắng". Cuối cùng quả đúng như vậy!

(6) Ngày 23/10/1987, ngài Trương Trung Thành cùng quê tôi đến xin đoán hậu vận. Căn cứ vào ngày sinh tháng đẻ, tính được quẻ "lý" của quẻ "vô vọng"

QUẺ CHỦ "VÔ VỌNG" QUẺ BIẾN "LÝ"
Thê tài tuất thổ. Thê tài tuất thổ.
LỤC THẦN
Phi xà
Quan quỷ thân kim. Quan quỷ thân kim.thế Câu trần

Tủ tôn ngọ hỏa, thế Tủ tôn ngọ hỏa. Thê tài tuất thổ... Thê tài sửu thổ...
Chu tước
Thanh long
Huynh đệ dần mộc X Huynh đệ mão mộc.ứng Huyền vũ

Phụ mẫu tý thủy.ứng
Tử tôn tỵ hỏa.
Bạch hổ
Tôi xem quẻ dầu tiên nói: "Hôn nhân của ông không thuận, đã ly hôn 1lân, năm nay lại phải ly hôn nữa, thời gian khoảng tháng 2, tháng 3". Ong Trương nói: "quả thực không hợp với người vợ hiện
tại nên có lẽ ly hôn lần thứ hai khó tránh khỏi". Về sau đúng ly hôn vào tháng 3!.
1/ Càn là kim là quẻ thể ở vượng địa, chấn mọc là vợ lại ở tử địa, lại hó ađoài kim khắc trở lại, nên trong hôn nhân có khắc trở; lại thanh long là mộc lâm hào thê tài chủ về việc khắc vợ.
2/ Hào thế hào ứng xung khắc lẫn nhau, đó là chủ về tượng hôn nhân không tốt.
3/ Huynh đệ dần mộc động, mà hóa tiến là mão mộc cũng là điềm kiếp thê khắc vợ. Lại mão
mộc lâm thái tuế khắc vợ, nên năm nay tất ly hôn.
(7) Ngày 8/12/1986 nữ sĩ Khoan Hồng ở nhà máy tôi đến xin đoán về thai nghén, gieo được quẻ
"khôn" của quẻ "cấu"

QUẺ CHỦ "CẦU"
QUẺ BIẾN "KHÔN" LỤC THẦN

Phụ mẫu tuất thổ
O Huynh đệ dậu kim...thế Thanh long

Huynh đệ thân kim O
Tử tôn hợi thủy.... Huyền vũ
Quan quỷ ngọ hỏa O ứng Phụ mẫu sửu thổ... Bạch hổ

Huynh đệ dậu kim O
Thê tài mão mộc...ứng Phi xà

Tử tôn hợi thủy
O Quan quỷ tỵ hỏa... Câu trần
Phụ mẫu sửu thổ...thế Phụ mẫu mùi thổ... Chu tước
1/ Trong quẻ chủ năm hào đều động tức việc không thuận.
2/ Hào thế phụ mẫu sử thổ không hợp, tử tôn hợi thủy lại bị nguyệt kiến khắc, là chưa có thai.
3/ Hào tử tôn hợi thủy tù ở nguyệt kiến, mộ ở nhật thìn, lại hóa thành tỵ hoả là tuyệt địa, câu trấn động khắc tử tôn là thượng không tốt.
4/ Hào thế phụ mẫu sửu thổ hóa mùi thổ, là hóa xung. Thai bị xung cũng là tượng không tốt. Tháng giêng 1987 mà có thai thì sợ rằng khó vượt qua cửa ải tháng 6.
Căn cứ tình hình trên, tôi nói với cô ta: "năm 1987 tốt nhất là không có thai". Về sau cô ta lại gặp được người ông của chồng nói là: vợ chồng các con năm nay khong có thai thì tốt, nếu có rất khó giữ. Hậu quả là tháng giêng đã có thai và tháng 6 đẻ non con chết!
(8) Ngày 23/7/1987, tôi về thăm quên ở Hồ Bắc, cô em họ tên là Bích Hoa muốn tôi đoán về vận hạn. Gieo được quẻ "độn" của quẻ "lữ".
QUẺ CHỦ "LỮ" QUẺ BIẾN "ĐỘN"
Huynh đệ tỵ hỏa. Tử tôn tuất thổ.
Tử tôn mùi thổ X Thê tài thân kim.ứng Thê tài dậu kim.ứng Huynh đệ ngọ hỏa. Thê tài thân kim. Thê tài thân kim.Huynh đệ ngọ hỏa... Huynh đệ ngọ hỏa... thế. Tử tôn thìn thổ.... Thế Tử tôn thìn thổ...
1/ Hào thế thìn thổ bị thái tuế đinh mão khắc, năm nay nhất định có tai họa.
2/ Quẻ nội huynh đệ ngọ hỏa hóa tiến lại là ngọ hỏa nên nhất định bị thương ở chân tay.
3/ Hào thế thìn thổ lâm cung, lại hóa ra hào thế ngọ hỏa cả 1 vùng hỏa địa là sinh thân thái quá, hiện nay nguyệt kiến đinh hỏa vượng, sách nói: "vượng thái quá tức là họa vậy".
4/ Hào từ của hào thế nói đại ý là : "rời khỏi chỗ ở thì sẽ chuốc lấy tai nạn".
Căn cứ tình hình trên tôi nói với cô em họ: "những ngày gần đây cô đừng đi xa thì tốt, đặc biệt đừng đi về phía nam nhà ở, sợ gặp tai họa bị thương". Quả đúng cuối tháng7 đi chợ Hoàng Thạch ở phía nam để mua dưa, kết quả là ôtô cán chân bị thượng, phải năm viện.
(9)Ngày 19/10/1987, cô Lưu Hoa Hương nói: bà mẹ năm nay tuổi đã cao lại bị bệnh nặng. Cụ bảo khó mà qua khỏi được. Chị em nghe xong rất lo lắng, nên nhờ tôi đoán cho một quẻ. Gieo được quẻ "lý" của quẻ "càn"
QUẺ CHỦ "CÀN" Phụ mẫu tuất thổ.thế Huynh đệ thân kim. Quan quỷ ngọ hỏa. Phụ mẫu thìn thổ.ứng Thê tài dần mộc.
Tử tôn tý thủy.
1/ Quẻ gặp nganh nhau, nên không cần thuốc cũng có tin mừng.
2/ Đây là quẻ lục xung, mới bị bệnh gặp xung thì khỏi.
3/ Hôm nay ngày dần đoán được quẻ "càn". Hào ứng phụ mẫu thìn thổ tuần không, hôm sau ra khỏi tuần không là khỏi.
Tôi an ủi và nói với cô Lưu: Đừng lo, không những không chết mà hôm sau sẽ khỏi. Quả đúng như thần, sáng ngày thìn bệnh nhân thấy khoẻ và xuống giường được, tối còn ăn được bát mì.
(10) Ngày 3/3/1988 ngài Trương Chấn Hoàn là Tổng thư ký của Hội nghiên cứu khoa học khí công Trung Quốc gửi thư cho tôi nhờ tôi đoán xem bệnh viêm gan truyền nhiễm ở Thượng Hỉa khi nào thì có chuyển biến tốt? Gieo được quẻ 'độn" của quẻ "đồng nhân"
QUẺ CHỦ "ĐỒNG NHÂN" QUẺ BIẾN "ĐỘN"
Tử tôn tuất thổ.ứng Tử tôn tuất thổ.
Thê tài thân kim. Thê tài thân kim.ứng Huynh đệ ngọ hỏa. Huynh đệ ngọ hỏa. Quan quỷ hội thủy.thế Thê tài thân kim.
Tử tôn sửu thổ... Huynh đệ ngọ hỏa.thế
Phụ mẫu mão mộc. Tử tôn thìn thổ.
"Đoán bệnh thì hào quan quỷ là dụng thần" ("Hoàng kim sách")
Quan quỷ hợi thuỷ ở tử địa lại bị phúc thàn của tuất thổ tử tôn khắc, nay mão và tuất hợp, quan quỷ không chế ngự, tháng 3 thìn thổ xung tuất thổ, tất khắc được quan quỷ. Lại tháng thìn là mộ địa
của quỷ, tức thủy quỷ nhập mộ. Quỷ nhập mộ thì vô hại, tháng 4 ở tuyệt địa. Do đó tôi liền viết thư
trả lời như sau: "Tháng 3 bệnh dịch sẽ được không chế, tháng 4, tháng 5 nhất định sẽ qua". Sau đó không lâu Đài phát thanh trung ương đưa tin dịch viêm gan ở Thượng Hải đã bị ngăn chặn.



(11) Ngay 10/6/1988 cô Nhâm Kính Tiên ở nhà má nhờ tôi đoán cho con thi tay nghề có được hay không? Được quẻ "di" của quẻ "phệ hạp"
QUẺ CHỦ "PHỆ HẠP" QUẺ BIẾN "DI"
Tử tôn tỵ hỏa. Huynh đệ dần mộc.
Thê tài mùi thổ...thế Phụ mẫu tý thủy... Quan quỷ dậu kim. Thê tài mùi thổ.thế Thê tài tuất thổ... Thê tài tuất thổ... Huynh đệ dần mộc..ứng Huynh đệ dần mộc...
Phụ mẫu tý thủy.... Phụ mẫu tý thủy.ứng.
1/ Lấy quan quỷ dậu kim làm dụng thần, nay dụng thần được hào thế mùi thổ tương sinh, dụng thần lâm trương sinh nguyệt kiến, đã cát lại thêm cát.
2/ Dụng thần hóa thành hào tài tuất thổ sinh trở lại lại là tượng đắc lợi. Cho nên nhất định sẽ thi đỗ. Quả thực về sau đỗ.
(12) Bà Thường Lan có con gái đi công tác xa, dặn 10 hôm sẽ về, nay nửa tháng chưa thấy về, nên nhờ đoán. Gieo được quẻ "thái" ( ) Tử tôn dậu kim là dụng thần.
QUẺ CHỦ "THÁI"
Tử tôn dậu kim.ứng Thê tài hợi thủy. Huynh đệ sửu thổ.. Huynh đệ thìn thổ.thế. Quan quỷ dần mộc. Thê tài tý thuỷ.
Hào thế hào ứng tương hợp nên vốn định hôm nay trở về, nhưng vì công việc ràng buộc, phải ngày tuất là ngày mai, chờ tuất thổ xung khai thìn thổ thì sẽ về. Quả đúng như vậy.
Phương pháp đoán quẻ theo bát quái rất nhiều, còn có quẻ "hỗ", quẻ "biến", thân quẻ... Ở đây không nêu ra nữa.
Bát quái vốn là công cụ dùng để dự đoán thong tin, giống như điện thoại công cộng, người tốt, người xấu đều dùng. Căn bản không có chuyện: "người tốt thì đoán quẻ xấu thành tốt, người xấu đoán quẻ tốt thành quẻ xấu". Mà là người đoán cần đoán việc gì, có phù hợp với điều kiện khách quan hay không, có thuận với lý âm dương không? Còn có một vấn đề nữa là bản thân mình tiềm chứa những thông tin gì thì sẽ được thông tin về dạng đó. Điều này trong sự sắp xếp thiên can địa chi của giờ sinh
đã có thể xem ra. Giống như bác sĩ dùng X - quang để chiếu rõ bộ phận nào của anh "tiên thiên bất túc", và đến thời kỳ nào đó nhất định phát triển thành bệnh gì. Dùng bát quái để đoán thông tin cũng giống như việc chuẩn đoán bệnh: việc tốt thì làm, việc xấu thì bỏ, không làm tự nhiên sẽ không bị hại. Việc mà bát quái đoán, chỉ cần kỹ năng đoán cao đều có thể bách phát bách trúng, còn vì sao lại đúng đến thế thì trong "bát quái và thông tin" tôi đã nói rõ: đó là sự bí mật thiên cổ.
"Chu dịch" lấy bát quái làm chủ thể, lấy 64 quẻ để viết thành sách, lấy dự đoán thông tin mà
nổi tiếng, do đó giá trị khoa học quý báu của nó còn lưu truyền đến ngày nay. Vì lý luận uyên thâm,
thần kỳ mà được người đời coi trọng, do cống hiến to lớn cho nhân loại mà được người đời khâm phục, sùng bái... Đó là niềm tự hào của dân tộc Trung Hoa. Nhưng thật không may, phương pháp dùng
bát quái để dự đoán thông tin cũng gặp rủi ro giống như 4 phát minh lớn của nước ta đều là "hoa nở trong tường ngoài tường thơm". Người nước ngoài xem nó là bảo bối, gọi nó là viên ngọc sáng trên vương miện của khoa học, còn chúng ta, ngược lại khoác cho nó cái tên "mê tín phong kiến, duy tâm chủ nghĩa", bỏ xó lâu dài, hàng chục năm nay không ai dám nhìn đến, càng không dám nghiên cứu, tuyên truyền. Có một số người nghiên cứu bát quái, nhẹ ra là bị phê phán đấu tranh, nặng ra bị ghép thành tội phản cách mạng bắt giam. Bi kịch mình không tin mình, không tôn trọng mình, không tôn trọng sự thật, không tôn trọng khoa học này thật có lỗ với tổ tiên. Đâu còn dám nói đến phương châm "trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng".
Về việc "tượng quẻ sinh khắc làm chủ" trong Mai hoa dịch số" có bàn đến, xin đưa vào tiết này để mọi người ứng dụng khi đoán. Thực tế đã chứng minh nó đúng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét