Thứ Ba, 3 tháng 2, 2009

CHU DỊCH với DỰ ĐOÁN HỌC=Thiệu Vĩ Hoa (P7)

VI. BẢNG SÁU MƯƠI GIÁP TÝ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁC
1. Bảng nạp sáu mươi giáp tý
Trong khoa học nhân thể, đối với việc dự đoán thông tin của người, nhất là dự đoán vận mệnh tốt xấu, cho dù dùng phương pháp tứ trụ hay phương pháp bát quái đều lấy nguyên lý âm dương biến hóa, ngũ hành sinh khắc chế hóa làm quy tắc.
Khí âm dương ngũ hành là loại vật chất cực kỳ tinh vi, nói chung ta không nhìn thấy hay sờ mó được, hiện nay chưa có cách gì đo được nó. Cho cả đến khí âm dương ngũ hành trong cơ thể, nó có phân bố, cấu tạo, sắp xếp và phát sinh ngũ hành khắc ra sao, làm thế nào để phân biệt được và thời gian nào nó ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của con người, khoa học hiện đại vẫn chưa biết được gì mấy, cho nên không có cách gì đề phòng tránh, để hướng về điều tốt, xa điều dữ.


Tổ tiên ta, để giải quyết điều nan giải ở trên, đã phát minh ra thiên can địa chi để làm tiêu chí
cụ thể về các loại tin tức âm dương ngũ hành trên cơ thể con người. Như vậy, người ta rất dễ xem được sự phân bố, cấu tạo tổ hợp sắp xếp khí âm dương trong thân thể và thời gian ngũ hành sinh khắc cũng như ảnh hưởng của nó đối với vận mệnh con người. Dó đó bản sáu mươi giáp tý vừa là khí âm dương ngũ hành trong nhân thể, còn là tiêu chí tin tức thời gian, phương vị không gian, vừa là sự vượng suy của khí âm dương trong cơ thể, còn là tiêu chí tin tức âm dương ngũ hành phát sinh, sinh khắc, chế hóa. Tòm lại, trong đời người ta, các loại thông tin đều chứa trong thiên can địa chi của thời điểm sinh ra.c ho nên sự sắp xếp thiên can địa chi ở thời điểm sinh ra con người, không những là thời gian biểu suốt đời của người đó mà còn là một cái bảng, cái hồ sơ có nội dung phong phú, có tính kịch
rất cao.
Bảng sáu mươi giáp tý có công dụng rất rộng. Sự sắp xếp của thiên can địa chi trong năm tháng ngày giờ sinh có thể tra trong bảng này. Trong bảng chia ra kim, mộc, thủy, hỏa, thổ tức là đem sáu mươi năm đầu của người mới sinh theo kim mộc thủy hỏa thổ chia thành năm loại mệnh. Trong bảng
cứ hai năm là một hàng, làm thành một năm mệnh. Người sinh năm kim là mệnh kim, sinh năm hỏa
là mệnh hỏa. Ví dụ: người sinh năm 1924, năm 1984 (năm giáp tý), năm 1925, năm 1985 (là năm ất sửu) đều thuộc mệnh "hải trung kim", gọi tắt là người "mệnh kim". Những mệnh khác trong bảng đã
ghi rõ, mỗi vọng 60 năm lại lặp lại. Bảng ngũ hành nạp âm sáu mươi giáp tý, cụ thể đã căn cứ nguyên

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

tắc nào để lập nên? Người xưa tuy có bàn đến nhưng chưa có căn cứ, nói chưa rõ. Do đó huyền bí khó giải. Sự biến hoá vô cùng của bảng đối với giới học thuật của nước ta vẫn còn là "câu đố".
Trong bảng, đem người ta chia làm năm loại mệnh: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Năm loại mệnh này tồn tại và phát triển theo quan hệ sinh khắc giữa ngũ hành, đặc biệt quan hệ tương khắc, nhất định ta phải phân tích cụ thể, xử lý cụ thể, làm rõ tính khắc. Ví dụ hỏa khắc kim, nhưng kim ở "hải trung kim" là dưới đáy biển, kim ở "sa trung kim" là ở trong cát, nên hỏa không dễ khắc dim. Có loại kim không những không sợ hỏa khắc mà còn mừng có hỏa. Ví dụ "kiếm phong kim" mừng có lửa luyện, vì nó chỉ nhờ có lửa luyện mới thành kiếm sắc. "Bạch lạp kim" là kim trên cây nén, rất dễ bị hỏa khắc. "Hải trung kim", "sa trung kim" tuy khó mà bị hoả khắc nhưng nó cũng sợ "hỏa thu lôi" vì "hỏa thu lôi" có thể đanh xuống đáy biển, đánh xuống tận tầng đất sâu.
Kim có thể khắc mộc, nhưng gỗ trong cột phần nhiều lại mừng có kim để chế ngự lại, nên suy kim không thể khắc mộc vượng. Trừ khi mộc yếu gặp kim vượng thì bất lợi. Nói chung trong điều kiện bình thường thì "đại lâm mộc", "bình địa mộc" không dễ bị kim khắc. Nhưng mộc sợ nhất là "kiếm phong kim" vì nó là kim của vũ khí.
Mộc có thể khắc thổ, thổ trong đồng ruộng phần nhiều thổ vượng, rừng cây thưa nếu không thì nuôi được mùa màng. Mộc suy thổ vượng, mộc không khắc được thổ, mộc vượng thổ suy, tất sẽ bị khắc. Nói chung "thổ trên tường", "thổ ở bãi ruộng" không dễ bị mộc khắc. Nhưng thổ sợ nhất là "đại lâm mộc", "bình địa mộc" khắc.
Thổ có thể khắc thủy. Thủy nhiều, thuỷ vượng bao vây thổ, có thể tưới ruộng, tưới nhuần vạn vật, nên suy thổ thì không khắc được vượng thủy. Nếu thủy suy thổ vượng, tất sẽ bị khắc. Thủy sợ thổ khắc. Nhưng "thủy thiên hà", "thủy đại dương" không những không sợ thổ khắc, mà còn khắc lại thổ.
Vì thủy thiên hà ở trên trời, thổ ở dưới đất, nên đành chờ hai thủy tinh thoái vị thì thổ tinh lúc trực ban mới chế ngự được.
Thủy có thể khắc hỏa. Hỏa nhiều, hoả vượng mừng có thủy chế. Hỏa vượng thủy suy thì không
sợ thủy khắc. Thủy vượng hỏa suy, tất sẽ bị nó khắc. Nói chung "hỏa trên trời", "hỏa thu lôi" không
dễ bị thủy khắc. Có thể nói "hoả thu lôi" không những không sợ bị thủy khắc, ngược lại trời mưa càng
to sét còn có thể chui xuống đáy biển để khắc thủy.


BẢNG NẠP ÂM SÁU MƯƠI GIÁP TÝ



Am dương ngũ hành tương sinh tương khắc, đương nhiên có ảnh hưởng quyết định đối với cả
cuộc đời con người. Tương sinh nhiều là cát, tương khắc nhiều không lợi. Nhưng trong xử lý mối quan
hệ giữa con người với nhau, đặc biệt là quan hệ vợ chồng, tất nhiên là năm mệnh tương sinh là tốt nhất. Khi năm mệnh hai người tương khắc, vừa phải xem có khắc nhiều hay ít và có thể khắc được

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

không, còn phải xem sự sắp xếp, tổ hợp tứ trụ của hai bên có tương sinh, tương chế và tương hợp không, không thể vừa thấy tương khắc liền cho là không cát, như thế là xem xét không toàn diện.
Ngũ hành mỗi cái chủ một việc, đặc điểm rất khác nhau. Về mặt tính cách con người, nói chung
người mệnh kim thì nghĩa khí, kim trong cột phần nhiều là kim vượng, tính chất cứng, những dễ gãy. Người có mệnh hỏa chủ về lễ. Trong cư xử thường có lễ, găp việc thường lấy lý luận để xét. Nhưng hỏa nhiều, hỏa vượng, tính nóng nảy dễ làm hỏng việc. Người mệnh thổ giữ chữ tín, nói một là một,
hai là hai, nói đến đâu làm đến đó. Nhưng thổ vượng thì thích tĩnh, không thích động do đó dễ mất
thời cơ. Người mệnh mộc hiền từ tấm lòng tốt. Nhưng mộc vượng thì tính cách không khuất phục đực biết là người "tang tùng mộc" (gỗ dâu, gỗ thông) thà chết đứng chứ không chịu sống quỳ. Loại người này rất hợp với binh ngũ, làm trinh sát viên hay nhân viên đặc biết. Người mệnh thuỷ mưu trí, thông minh, ham học, nhưng mệnh thủy gấp khúc nhiều, như nứơc chảy từ Côn Lôn ra biển Đông, phải qua nhiều gian khổ. Nếu thủy vượng thì tính tình gấp nóng, hung bạo, dễ gây tai họa.
Bảng sáu mươi giáp tý không những là tiêu chí tin tức của nhân thể mà cũng là tiều chí tin tức hưng vượng, suy vong của muôn vật, muôn việc trong tự nhiên. Đối với một đất nứơc cũng như thế. Nếu có thời mưa thuận gió hòa, nông nghiệp được mùa, mọi mặt tốt đẹp thì cũng có thời thiên tai hạn hán hoặc lụt lội khắp nơi, hoặc ruộng đất, tai họa tự nhiên xảy ra liên tiếp làm cho nhân tài vật lực
tổn thất liên miên. Gây nên những nguyên nhân này, đặc biệt là gây nên thiên tai, đều có liên quan
với âm dương ngũ hành sinh khắc chế hóa. Để nói rõ vấn đề, ta chỉ lấy năm 1988 làm ví dụ.
Năm 1988 là năm "đại lâm mộc", năm mệnh là mệnh mộc. Can chi mậu thìn của năm là thổ, mộc khắc thổ. Đó là mệnh của năm tự hành tương khắc, cho nên năm 1988 các loại thiên tai nhân họa
rất nhiều. Cụ thể:
1. Ở Thượng Hải có dịch viêm gan siêu vi trùng. Thượng Hải nằm về phương Đồng (cổ đại bát quái lấy Thiểm Tây, Tây An là trung tâm). Phương Đông là mộc, mệnh năm lại là một chứng, tháng
hai là mùa mộc vượng. Thượng Hải lại ở bên nước, mộc được thủy sinh là vượng thêm vượng. Vượng quá tức thái quá, thái quá tất có hại, vì mộc là gan nên bị bệnh gan.
2. Nạn lụt nhiều. Năm 1988 lụt rất nhiều, chủ yếu vì mộc khắc thổ, thổ bị thương mà không sức nào chữa được, do đó tạo thành lút.
3. Mất mùa. Thổ là mẹ nuôi vạn vật. 1988 là năm mệnh mộc, thổ tự khắc mậu thìn thái tuế, thổ
bị thương, giống như người mẹ bị bệnh không thể sinh sản nuôi dưỡng được. Thổ đã bị thương, thủy
lại mạnh do đó mà mùa màng xấu, hoặc mất lụt.
Năm nay (sách này viết đầu năm 1989), mệnh năm vẫn là năm khắc thổ. Do đó toàn cảnh năm
1989 vẫn không tốt, thiên tai so với năm 1988 còn nghiêm trọng hơn.
Vận hội của đất nước cũng giống như vận mệnh một người, có tốt có xấu, có quy luật nhất định.
Về thời gian mà nói: 1926, 1927, 1928, 1929, 1936, 1937, 1038, 1939; 1946, 1947, 1948, 1949; 1956,
1957, 1958, 1959; 1966, 1967, 1968, 1969; 1976, 1977, 1978, 1979; 1986, 1987, 1988, 1989 v. v. ... Trung Quốc đều có tai họa, biến động lớn. Ví dụ năm 1928 Thượng Hải bị nạn bắt bớ tàn sát. Năm
1988 Thượng Hải bị dịch viêm gan siêu vi trùng nặng, tai họa cho con người. Tuy tính chất tai họa không giống nhau, nhưng con người đều gặp nạn. Căn cứ "Địa mẫu kinh"đã chép:
Quốc vận tố xấu cũng có quy luật tuần hoàn. Có một số nạn dịch đến thời gian sẽ lập lại, chẳng qua tính chất khác nhau mà thôi. Cho nên Trung Quốc phàm những năm có chữ số cuối là 6, 7, 8, 9 thường không thuận. Đặc biệt năm có số 9 là động quân đội, có chiến tranh, có máu chảy. Năm 1929 bọn quân phiệt cát cứ tàn sát lẫn nhau. Năm 1939 cuộc kháng Nhật phát triển toàn diện, năm 1949 là

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

chiến tranh giải phóng; 1959 chiến tranh Trung An kịch liệt, 1969 chiến tranh biên giớ Trung - Xô chấn động toàn cầu, 1979 là chiến tranh với Việt Nam, cho nên năm 1989 cũng sẽ không yên lặng.
Căn cứ tình hình trên, nếu ta nghiên cứu sâu và chi tiết vào bảng sáu mươi giáp tý, đặc biệt là đoán trước thiên tai mỗi năm, nếu có lụt thì làm tốt công tac phòng bị, có hạn thì xây hồ chứa nước
trước, có dịch bệnh thì đề phòng trước, có động đất thì chuẩn bị trước... chắc sẽ giảm được rất nhiều
tổn thất về nhân lực và vật lực. Do đó, bảng sáu mươi giáp tý là tổng tiêu chí tin tức của vũ trụ.


2. Cách lấy tháng theo năm

Năm giáp, kỷ lấy bính làm đầu, năm ất canh lấy mậu làm đầu. Năm bính tân tìm canh dần, năm đinh nhâm, từ nhâm dần kể tiếp. Năm mậu quý lấy giáp dần khởi điểm.
Phép lấy tháng theo năm là tra mười hai tháng của năm xem (cao chi tên gì). Biết được tên của tháng sẽ biết được lệnh của tháng. Đó là cách lấy tháng trong tứ trụ và trong dự đoán bát quái.
Năm giáp, kỷ lấy bính làm đầu tức là khi gặp năm giáp và năm kỷ, can chi của tháng giêng là "Bính dần", tháng hai là "Đinh mão", cứ thế lần lượt lấy cho đến tháng mười hai (xem bảng lấy tháng năm). Ví dụ 1984 là năm giáp tý, 1989 là năm kỷ tỵ, can năm là giáp và kỷ, cho nên tháng giêng hai năm đó đó đều là tháng bính dần.
Năm At Canh lấy mậu là đầu can chi của tháng giêng năm ất và năm canh là "mậu dần", tháng
hai là "kỷ mão". Ví dụ: 1980 là năm canh thân, năm 1985 là năm ất sửu, can năm là "canh" và "ất", cho nên tháng giêng của hai năm đều là "mâu dần", tháng hai là "kỷ mão"
Năm bính tân tìm canh dần cách tìm cũng như trên. Ví dụ năm 1981 là năm tân dậu, năm 1986
là năm bính dần, can năm là bính và tân nên tháng giêng đều là "canh dần", tháng hai là "tân mão".


Năm
Tháng Giáp, kỷ At, canh Bính, tân Đinh, nhâm Mậu, quý


Tháng
giêng
Bính dần Mậu dần Canh dần Nhâm dần Giáp dần



Tháng hai Đinh mão Kỷ mão Tân mão Quý mão At mão



Tháng ba Mậu thìn Canh thìn Nhâm thìn Giáp thìn Bính thìn


Tháng tư
Kỷ tỵ
Tân tỵ
Quý tỵ At tỵ
Đinh tỵ



Tháng năm Canh ngọ Nhâm ngọ Giáp ngọ Bính ngọ Mậu ngọ




Tháng sáu Tân mùi
Quý mùi
At mùi Đinh mùi Kỷ mùi



Tháng bảy Nhâm thân Giáp thân Bính thân Mậu thân Canh thân

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

Tháng tám Quý dậu At dậu Đinh dậu Kỷ dậu Tân dậu



Tháng chín Giáp tuất Bính tuất Mậu tuất Canh tuất Nhâm tuất



Tháng mười At hợi Đinh hợi Kỷ hợi Tân hợi Quý hợi




Tháng mười
Một
Bính tý Mậu tý Canh tý Nhâm tý Giáp tý




Tháng mười
hai
Đinh sửu
Kỷ sửu Tân sửu Quý sửu
At sửu



Năm đinh, nhâm từ nhâm dần kể tiếp. Ví dụ 1982 là nhâm tuất, 1987 là đinh mão, hai năm này
tháng giêng đều là "nhâm dần", tháng hai là "quý mão"
Năm mậu, quý lấy giáp dần khởi điểm. Ví dụ 1983 là năm quý hợi, 1988 là năm mậu thìn, nên tháng giêng hai năm đó đều là "giáp dần", tháng hai "ất mão"
Ví dụ: giờ ngọ ngày 14 tháng ba năm 1989
Canh ngọ Kỷ dậu Mậu thìn Kỷ tỵ
1989 là năm kỷ tỵ, theo năm giáp, năm kỷ tháng giêng là bính dần nên tháng ba là "mậu thìn". Các tháng khác cũng tính như thế.
3. Cách lấy giờ theo ngày

Giáp, kỷ còn thêm giáp: ất, canh: bính làm đầu Bính, tân: khởi từ mậu; đinh, nhâm khởi ở canh. Mậu, quý : khởi từ nhâm

BẢNG LẤY GIỜ THEO NGÀY Ngày
Giờ Giáp, kỷ At, canh Bính, tân Đinh, nhâm Mậu, quý

Tý Giáp tý Bính tý Mậu tý Canh tý Nhâm tý



Sửu At sửu Đinh sửu Kỷ sửu Tân sửu Quý sửu



Dần Bính dần Mậu dần Canh dần Nhâm dần Giáp dần



Mão Đinh mão Kỷ mão Tân mão Quý mão At mão

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa



Thìn Mậu thìn Canh thìn Nhâm thìn Giáp thìn Bính thìn



Tỵ Kỷ tỵ Tân tỵ Quý tỵ At tỵ Đinh tỵ



Ngọ Canh ngọ Nhâm ngọ Giáp ngọ Bính ngọ Mậu ngọ



Mùi Tân mùi Quý mùi At mùi Đinh mùi Kỷ mùi



Thân Nhâm thân Giáp thân Bính thân Mậu thân Canh thân



Dậu Quý dậu At dậu Đinh dậu Kỷ dậu Tân dậu



Tuất Giáp tuất Bính tuất Mậu tuất Canh tuất Nhâm tuất



Hợi At hợi Đinh hợi Kỷ hợi Tân hợi Quý hợi



"Giáp, kỷ còn thêm giáp" là giờ tý của ngày giáp, ngày kỷ bắt đầu là giờ "giáp tý". "Giáp tý"
này là tên gọi can chi giờ tý của ngày giáp, ngày kỷ. Cách đây giờ tiếp theo cũng giống cách lấy tháng theo năm. Còn muốn biết tên can chi của ngày giáp, ngày kỷ thì phải tra tìm trong lịch vạn niên. Sau khi tìm được tên can chi của ngày rồi mới theo bảng trên tìm giờ. Như vậy chỉ cần biết được
tên can chi của giờ tý mỗi ngày là có thể tìm ra tên cách giờ tiếp theo.
"Giáp, kỷ còn thêm giáp" là tên gọi giờ tý "của ngày, ngày kỷ" lấy là "giáp tý", giờ sửu là "ất

sửu"


sửu"


sửu"


"At, canh, bính là đầu" là giờ tý của "ngày ấy, ngày canh" lấy tên "bính tý", giờ sửu là "đinh


"Bính, tân khởi từ mậu" là giờ tý của "ngày bính, ngày tân" lấy tên là "mậu tý", giờ sửu là "kỷ


"Đinh, nhâm khởi ở canh" là giờ tý của "ngày đinh, ngày nhâm" lấy tên "canh tý", giờ sửu là
"tân sửu"
"Mậu, quý khởi từ nhâm" là giờ tý của "ngày mậu, ngày quý" lấy tên là "nhâm tý", giờ sửu là
"quý sửu"

Ví dụ: Giờ tý ngày 13 tháng 3
năm 1989
Nhâm tý Mậu thân Mậu thìn Kỷ tỵ
Căn cứ năm kỷ tra ra tháng ba là "Mậu thìn", căn cứ "lịch vạn niên" tra tháng 3 ngày 13 là ngày
"mậu thân", lại căn cứ "can ngày mậu" tra được giờ Tý là "nhâm tý.
Ví dụ: Giờ tý ngày14 tháng 3 năm 1989
Tra bảng được: Giáp tý Kỷ dậu Mậu thìn Kỷ tỵ

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

Bảng sáu mươi giáp tý khi lập tứ trụ không thể thiếu được.
Sự sắp xếp thiên can địa chi trong năm, tháng, ngày, giờ sinh của một người là tếu chí thông tin vận mệnh suốt cuộc đời người đó. Như cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, con cái, sức khoẻ cho đến vận mệnh tốt xấu, tất cả đều ở trong đó. Đó chính là căn cứ để dự đoán vận mệnh tốt xấu, cát hung, phúc họa của người ấy.
Để sắp xếp cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, con cái theo năm tháng ngày giờ sinh của một người, người xưa có hai cách:
Cách thứ nhất là: năm là tổ tiên ông bà, tháng là cha mẹ, ngày là anh em và mình, giờ là ngôi con cái.
Cách thứ hai thường dùng hơn, thấy chép trong "Kỳ môn tuần giáp thống tôn đại toàn" như sau: Can năm là cha, chi năm là mẹ; can tháng là anh em, chi tháng là chị em; can ngày là mình, chi ngày
là vợ (hoặc chồng); can giờ là con trai, chi giờ con gái. Că cứ thực tiễn, cách thứ hai phù hợp với thực
tế. Xin ghi lại thành bảng sau.
Nam: sinh giờ tỵ ngày 15 tháng 3 năm 1989


Kỷ
Tỵ Mậu Thìn Canh Tuất Tân Tỵ



Cha Mẹ Anh em Chị em Mình Vợ Con Con gái
(chồng) trai


Phụ nữ lấy can thăng là chị em gái, chi tháng là anh em trai, những mục khác như nam giới.
Dùng tứ trụ đoãn không những đọ chính xác cao mà diện tương đối rộng và cụ thể, nhưng phương pháp rất phức tạp và cáo sâu, ở đây không bàn sâu hơn được. Ơ đây chỉ giớ thiệu cách xếp thiên can, địa chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh, chủ yếu là đẻ khi đoán theo bát quái lấy lệnh tháng, lệnh ngày làm tiếu chuẩn, để định sự vượng suy của quẻ, đặc biệt là lệnh tháng nó có quyền lực làm chủ sinh sát, cho nên lệnh tháng rất quan trọng. Không biết được lệnh tháng thì không thể nào ước lượng được sự vượng suy của quẻ, cũng tức là không nắm chắc được sự thành công hay thất bại, cát hung của dự đoán. Ví dụ tháng giêng, tháng hai mộc vượng, gieo được quẻ thổ của "khôn", "cấn", vì quẻ gặp tử địa, mọi việc đều hỏng; mùa thu kim vượng, gieo được quẻ mộc của "chấn", "tốn", vì quẻ gặp tử địa, không cát. Những cái khác trong "vượng, tướng, hưu tù của ngũ hành" đã nói rõ.


4. Bảng sinh, vượng, tử, tuyệt của thập thiên can.

Bảng này dùng để lấy thời lệnh vượng suy của thập can, từ đó nói rõ toàn bộ quá trình phát triển, biến hóa của sự vật từ sinh trưởng, hưng vượng, đến suy, đến bệnh chết. Quá trình này là quy luật phát triển tất yếu của sự vật.
Thập thiên can được đưa vào nhân thể học để tiến hành dự đoán đã trãi qua lịch sử mấy nghìn năm. Thực tiễn chứng minh nó là khoa học, vì từ sự sắp xếp thập thiên can trong năm tháng ngày giờ sinh của con người, có thể dựa vào tiêu chí thông tin lệnh vượng suy của thập thiên can để thấy được
và dự đoán sự vượng suy của người đó và các thông tin vượng suy của sự vật. Vấn đề này từ xưa đến nay đều không thể phủ nhận. Nhưng do khoa học hiện đại còn chưa giải thích được cơ sở cao sâu của
nó nên mới có người nói nó là duy tâm.

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

Trong bảng, chữ "trường sinh" ví như người vừa sinh ra, hoặc giai đoạn thịnh vượng. "Mộc dục"
là hài nhi sau khi sinh ra được tắm rửa. "Quan đái" là trẻ em đã biết tự mặc áo, đội mũ. "Lâm quan" cũng gọi là "tiến lộc" và "đế vượng" đều là giai đoạn thân vượng, vận khí vượng. Sự vật đã vượng tất đến suy, cho nên suy đến tuyệt đều là đất chết. "Thai", "dưỡng" về phương diện vận khí mà nói, đều
gọi là "bình vận", vì "thai" là mang thai, "dưỡng" gọi là "hưu dưỡng". Các trạng thái được kê ra trong bảng, từ quy luật phát triển, biến hóa của sự vật mà nói chính là sự vật từ sinh đến trưởng thành,
lớn mạnh đến suy bại tử vong, sau đó lại đến vòng tuần hoàn khác cũng qua quá trình sinh tử như thế.
Trong bảng, thập can là chỉ can ngày sinh là chính. Ví dụ giáp mộc gặp hợi là sinh trưởng, gặp
tý là mộc dục, gặp sửu là quan đái ... Gặp thìn là suy, gặp tỵ là bệnh... tức là nói: giáp mộc gặp năm hợi, hoặc tháng hợi, ngày hợi, giờ hợi đều là gặp sự "sinh trưởng". Ngược lại, giáp mộc gặp năm giáp ngọ, hoặc tháng ngọ, ngày ngọ, giờ ngọ đều là gặp tử địa. Gặp tử địa không nhất thiết là phải chết. Tử
địa phần nhiều chủ vận khí không thuận hoặc giả có tai nạn. Cho nên người sinh giáp mộc nếu năm tháng ngày sinh đều là ngọ, hoặc gặp trường hợp không biết tứ trụ của mình thì khi dự đoán phải cẩn thận, không thì dễ sai.
Trong bảng, từ trường sinh đến đế vượng và lợi, từ suy đến tuyệt là bất lợi, thai thường chủ chung chung. Địa chi trong bảng dùng để đoán cát hung, để biết được thời kỳ có lợi hay không lợi và
cho biết phương bị. Ví dụ ngày đế vượng ở mão, mão ở đây là năm mão, tháng mão, ngày mão.
Phương vị là phương đông, tức chỉ phương đông so với nơi mình sinh ra.


BẢNG SINH VƯỢNG TỬ TUYỆT CỦA MƯỜI THIÊN CAN


Ngũ
hành

Thời
Can ngũ dương Can ngũ âm

lệnh Giáp Bính Mậu Canh Nhâ
At Đinh
Kỷ
Tân
Qúy


Trạng thái
mộc
hỏa thổ kim m mộc thủy
hỏa
thổ
kim
thủy

Trường sinh

Hợi Dần Dần Tỵ Thân Ngọ Dậu Dậu Tý Mão

Mộc dục

Mão Mão Ngọ Dậu Tỵ Thân Thân Hợi Dần

Quan đái Sửu
Thìn Thìn Mùi Tuất Thìn Mùi
Mùi Tuất Sửu
Lâm quan Dần Tỵ Tỵ Thân Hợi Mão Ngọ Ngọ Dậu Tý
Đế vượng Mão Ngọ Ngọ Dậu Tý Dần Tỵ Tỵ Thân Hợi
Suy Thìn Mùi Mùi Tuất Sửu Sửu Thìn Thìn Mùi Tuất
Bệnh Tỵ Thân Thân Hợi Dần Tý Mão Mão Ngọ Dâu
Tử Ngọ Dậu Dậu Tý Mão Hợi Dần Dần Tỵ Thân
Mộ Mùi Tuất Tuất Sửu Thìn Tuất Sửu Sửu Thìn Mùi
Tuyệt Thân Hợi Hợi Dần Tỵ Dậu Tý Tý Mão Ngọ
Thai Dậu Tý Tý Mão Ngọ Thân Hợi Hợi Dần Tỵ
dưỡng Tuất Sửu Sửu Thìn Mùi Mùi Tuất Tuất Sửu Thìn

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

Giáp mộc mộ tại mùi. Mộ là nhập mộ, đương nhiên là không cát. Mùi ở đây là năm mùi, tháng mùi, ngày mùi, giờ mùi, phương vị là tây nam. Cho nên việc có lợi phải ở thời gian có lợi, đến phương
vị có lợi mà làm. Việc không có lợi vào thời gian không lợi thì không làm, không đi theo phương không lợi thì có thể tránh được những thiệt hại bất ngờ. Cho nên bảng sinh vượng tử tuyệt của mười
thiên can là tiêu chí thông tin và thời gian biểu để hướng việc tốt, tránh việc xấu.


5. Mười hai tiết lệnh

Tháng giêng lập xuân, tháng hai kinh trập, tháng ba thanh minh, tháng tư lập hạ, tháng năm mang chủng, tháng sáu tiểu thử, tháng bảy lập thu, tháng tam bạch lộ, tháng chín hàn lộ, tháng mười
lập đông, tháng mười một đại quyết, tháng mười hai tiểu hàn.
Mười hai tiết lệnh còn gọi là mười hai lệnh tháng. Lệnh tháng nắm quyền sinh sát của một tháng, là đề cương của vạn vật. Lệnh tháng không chỉl à đường phân giớ của một năm, một tháng, là tiêu chuẩn duy nhất để đo sự vượng suy của một quẻ mà cũng là tiêu chuẩn vượng suy của can chi trong tứ trụ. Cho nên lệnh tháng vô cùng quan trọng trong việc dự đoán thông tin nhân thể.
1) Cácg xếp tứ trụ trước khi lập xuân và sau khi lập xuân trong năm
1 - Ví dụ : Cách xếp tứ trụ năm trước lập xuân.
Giả thiết 3h30 ngày 17 tháng 12 năm 1987 âm lịch lập xuân, người sinh giờ dần thì xếp tứ trụ như sau:
Năm đinh mão, tháng quý sửu, ngày kỷ sửu, giờ bính dần (đây là tứ trụ của người sinh trước
3h30).
Nếu âm lịch năm 1987, tháng 12, ngày 17, sinh sau 3h30 phút thì tính như sau:
Am lịch năm 1988, tháng giêng, ngày 17, sinh giờ dần, tứ trụ sẽ là: năm mậu thìn, tháng giáp dần, ngày kỷ sửu, giờ bính dần. Vì sau 3h30 tức sinh sau lập xuân nên là tháng giêng năm 1988, còn ngày giờ vẫn là ngày kỷ sửu, giờ bính dần.
2 - Ví dụ : Cách xếp tứ trụ năm sau lập xuân.
Am lịch năm 1987, tháng giêng ngày mồng 7 (giả thiết 10h04 lập xuân): âm lịch năm 1986
tháng 12 ngày mồng 7 giờ tỵ.
Năm bính dần tháng tân sửu ngày giáp thân giờ kỷ tỵ, đó là người sinh trước giờ lập xuân.
Am lịch năm 1987 tháng giêng mồng 7, 10h40 phút, người sinh sau lập xuân có tứ trụ là:
Năm đinh mão, tháng nhâm dần, ngày giáp thân, giờ kỷ tỵ
2) Cách xếp giao tiết lệnh tháng. Giống như lệnh năm, người sinh trước giao tiết lệnh tháng thì xếp theo can chi lệnh của tháng trước, người sinh sau giao tiết thì xếp theo can chi lệnh của tháng sau,
tức là người sinh trước lệnh thì tính theo lệnh của tháng trước, người sinh sau lệnh thì tính theo lệnh tháng sau. Dưới đây, lấy ví dụ về tháng nhuần.
1987 nhuần tháng sáu, ngày 14, 10h04 phút lập thu. Ngưới sinh trước lập thu có tứ trụ là:
Năm Đinh mão, tháng đinh mùi, ngàykỷ sửu, giờ kỷ tỵ. Năm 1987 nhuần tháng 6, ngày 14, sinh sau 10h04 một giây thì phải tính là:

1987
tháng 7 ngày 14 giờ tỵ tứ trụ là:
Đinh mão mậu thân kỷ sửu kỷ tỵ
Trên đây đã giới thiệu về cách xếp tứ trụ cho người sinh trước và sau lệnh tháng. Cách xếp này
của tôi không phải chuyên để tính tứ trụ mà là chỉ để dùng lệnh tháng, lệnh ngày do sự vượng suy của

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

quẻ. Nếu dùng bát quái để đoán màkhông biết cách xếp tứ trụ của mỗi ngày thì không thể nào dùng bát quái để đoán được.
Tháng sáu là đinh mùi, thổ, là tháng lệnh. Nếu gieo được quẻ "khảm" là thủy, mùi thổ sẽ khắc
"khảm" thủy rất bất lợi. Sau lệnh tháng sáu là tháng mậu thân, nếu gieo quẻ khảm của tháng thân sẽ sinh ra thủy của "khảm", đó là tượng lợi đấy.


VII. THẦN, SÁT


Thần là sát, còn nếu sát là hung.


1. Thiên ất là có quý nhân
Thiên ất quý nhân là trong tứ trụ của người sinh có thiên ất là có quý nhân. Quý nhân là cát tinh, sao cứu trợ. Trong tứ trụ có cát tinh thì khi gặp việc, có ngưới giúp đỡ, gặp nạn có người cứu, đó
là sao gặp hung nhưng hóa thành cát.
Giáp, mậu đi với trâu, dê; ất, kỷ đi với chuột, khỉ; Bính, đinh đi với lợn, gà; nhâm quý đi với thỏ, rắn; Canh, tân đi với hổ,ngựa; đó là có quý nhân.
Giáp, mậu đi với trâu dê là: sinh năm giáp, hoặc năm mậu, trong tứ trụ lại có sửu, mùi (tức trâu,
dê) là tứ trụ có quý nhân. Nếu có cả sửu và mùi là có hai quý nhân, chỉ có một sửu (hoặc mùi) là có một quý nhân.
Có sách lấy Giáp, Mậu của can năm, có sách lấy Giáp, Mậu của can ngày. Theo kinh nghiệm thực tiễn, Giáp, Mậu vừa có thể của can năm, vừa có thể của can ngày để tra quý nhân. Quý nhân của
can năm to hơn quý nhân can ngày.
Ví dụ : Người sinh : giờ Sửu - ngày 1, tháng 6 năm 1984.
Giờ Kỷ sửu - Bính ngọ - Tân mùi - Giáp tý
Trong tứ trụ này, Mùi và Sửu là quý nhân, tức có 2 quý nhân.
Ví dụ : giờ Dậu - ngày 12, tháng 5 - 1984
Đinh Dậu - Bính Tý, Canh Ngọ - Giáp Tý.
Trong tứ trụ này, theo can Giáp để tra quý nhân, trong tứ trụ không có 2 chữ Sửu, Mùi nên không có quý nhân. Chữ Giáp càn năm không có quý nhân thì lấy chữ Bính can ngày để tra quý nhân.
Căn cứ "Bính, Đinh với lợn gà", giờ trong tứ trụ có chữ Dậu là gà, nên chữ Bính can ngày của tứ trụ
có một quý nhân.
Ví dụ: Người sinh : giờ Ngọ - mồng 3 - tháng 6 - 1986
Canh Ngọ - Giáp Dần - At Mùi - Bính Dần.
Theo chữ Bính can năm để tra quý nhân, trong tứ trụ không có 2 chữ Hợi, Dậu, nên chữ Bính không có quý nhân. Tuy nhiên chữ Giáp của can ngày trong tứ trụ có chữ Mùi, Mùi là dê. Vậy can
ngày có quý nhân. Cách tra quý nhân theo hào của quẻ thì lấy can ngày làm chủ.


2. Sao Mã

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

Sao Mã là ngựa, chủ về chạy khoẻ, tượng của chạy, động. Người trong tứ trụ có sao Mã, trong hào quẻ có sao Mã chủ về tượng ham chạy. Sao Mã trong tứ trụ, nếu rơi vào giờ sinh là Mã gặp đồn trại; ngưới lính và những người hay đi công tác phần nhiều có sao Mã. Tướng sĩ trấn ải ở biên cương
sao Mã của học phần nhiều rơi vào giờ. Sao Mã không nên nhiều, vì nếu nhiều là tượng của bôn ba,
lao khổ. Người phụ nữ có sao Mã nhiều càng không yên tâm, bất ổn, ở không ổn đinh, là tượng bất lợi.
Thân, Tý, Thìn Mã ở Dần, Ngọ, Tuất, Mã ở Thân
Tỵ, Dậu, Sửu Mã ở Hợi, Hợi, Mão, Mùi mà ở Tỵ.
Thân, Tý, Thìn Mã ở Dần: thứ nhất có nghĩa người sinh năm Thân, năm Tý, năm Thìn trong tứ
trụ thấy chữ Dần tức là có sao Mã, thứ hai là chỉ người sinh trong 3 ngày: Thân, Tý, Thìn, trong tứ trụ nếu có chữ Dần cũng là có sao Mã. Thực tiễn vận dụng thấy đều đúng cả.
Ví dụ : Người sinh : giờ Ngọ - ngày 16 - tháng 3 - 1989
Giáp Ngọ - Tân Hợi - Mậu Thìn - Kỷ Tỵ
Theo Tỵ, Dâu, Sửu để tra sao Mã trong tứ trụ này. Nay lấy chỉ năm là chuẩn, trong tứ trụ có chữ
Hợi, nên Hợi là sao Mã.
Ví dụ : Người sinh: giờ Dần - ngày 17 - tháng 3 - 1989
Nhâm Dần - Nhâm Tý - Mậu Thìn - Kỷ Tỵ
Lấy chi năm là Tỵ tra trong tứ trụ không có chữ Hợi nên không có sao Mã. Chỉ ngày là Tý, căn
cứ "Thân, Tý, Thìn, Mã tại Dậu", tra trong tứ trụ được chữ Dần, nên gọi là chi ngày có sao Mã.
Những trường hợp khác cũng dùng cách tra tương tự. Sao Mã trong tứ trụ lại chia làm 2 loại: hợp v à xung.
Ngưới sao Mã bị hợp là Mã bị trói chặt, không chạy, không đi được. Đó gọi là sao Mã có mà như không. Sao Mã nếu bị xung, Mã chạy càng nhanh; càng sợ, càng chạy nhanh. Như người bị xung,
bị đâm, chưa kịp chào đã chạy. Xung là : Tỵ, Hợi tương xung. Hợp là Dần hợp với Hợi. Hào quẻ lấy
ngày làm chủ.


3. Hàm trì (Còn gọi là Đào hao sát)

Đào hoa chủ về người đẹp, thông minh, ham học, khẳng khái, hào phóng, phong lưu. Dần, Ngọ, Tuất kiến Mão ; Tỵ, Dâu, Sửu kiến Ngọ
Thân, Tý, Thìn kiến Dậu ; Hợi, Mão, Mùi kiến Tý.
Dần, Ngọ, Tuất là người sinh trong 3 năm : Dần, Ngọ, Tuất: trong tứ trụ thấy có chữ Mão là có
Đào hoa. Cũng có thể người sinh trong 3 ngày: Dần, Ngọ, Tuất, trong tứ trụ thấy có chữ Mão tức cũng
có Đào hoa.
Ví dụ : Người sinh: giờ Tỵ - ngày 11 - tháng 2 - 1986
Đinh Tỵ - Quý Hợi - Tân Mão - Bính Dần
Trong tứ trụ này lấy chi năm là Dần để tra Đào hoa, trong tứ trụ có chữ Mão, nên có Đào hoa.
Ví dụ : Người sinh : giờ Dậu - mồng 4 - tháng 4 - 1986
Đinh Dậu - Bính Thìn - Quý Tỵ - Bính Dần.
Chữ Dần chi năm của tứ trụ này không có chữ Mão, nên không có Đào hoa. Nhưng có "Thân,
Tý, Thìn kiến Dậu" là có Đào hoa. Nay lấy chữ Thìn chi ngày, giờ của tứ trụ có chữ Dậu cho nên vẫn
có Đào hoa. Đó gọi là trên chi ngày tìm thấy Đào hoa.

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

Đào hoa lại chi làm: Hoa trong tường và hoa ngoài tường. (trên giờ thấy Đào hoa là Hoa ngoài tường; những trường hợp khác là Hoa trong tường. Hoa trong tường không dễ bị hái, Hoa ngoài tường
dễ bị người đi qua hái. Nên hoa trong tường ít bị thị phi, mang tiếng, cãi cọ; Hoa ngoài tường dễ bị thị phi. Cách tra cũng giống như trên, lấy chi ngày làm chủ để tra.


4. Kình dượng (còn có tên Dương nhẫn)

Người gặp kình dương là kiếp sát. Có hỉ, có Kỵ. Kình dương kiếp sát phần nhiều chủ việc có hại. Được ân (được chức quyền) sinh ra kình dương tức nắm quyền cao chức trọng, nên gọi là hỉ.
Giáp kình dương tại Mão. At kình dương tại Dần. Bính, Mậu kình dương tại Ngọ. Đinh, Kỷ kình dương tại Tỵ. Canh kình dương tại Dậu. Tân kình dương tại Thân. Nhâm kình dương tại Tý. Quý kình dương tại Hợi.
Luận thuyết về kình dương lấy can ngày làm chủ, như người sinh ngày Giáp trong tứ trụ có chữ
Mão, là có kình dương.

Ví dụ :
sinh giờ Mão - ngày 19 - tháng 3 - 1989
Đinh Mão - Giáp Dần - Mậu Thìn - Kỷ Tỵ
Ngày Giáp trong tứ trụ này có chữ Mão nên có kình dương. Tứ trụ gặp ngày Giáp thì cho dù
Mão ở ngôi năm, hay tháng, hay giờ đều tính là kình dương.


5. Lộc của thập Can

Giáp lộc tại Dần; At lộc tại Mão; Bính, Mậu lộc tại Tỵ; Đinh, Kỷ lộc tại Ngọ; Canh lộc tại
Thân; Tân lộc tại Dậu; Nhâm lộc tại Hợi; Quý lộc tạy Tý.
Lộc là phúc lộc, hưởng lộc. Lộc đặc trưng cho phúc. Lộc lấy can ngày làm chủ. Cách tra: giống cách tra kình dương.



6. Sao Hoa cái

"Sao Hoa cái" chủ về thông minh, hiếu học, nhiều tai nghệ, kiêu ngạo, tính cô độc. Chủ về xuất
gia (tổ hợp tứ trụ không tốt), hoặc là tin Thánh, Phật, tin Đạo giáo, hoặc ham bói toán, tướng số.
Dần, Ngọ, Tuất kiến Tuât; Tỵ, Dậu, Sửu kiến Sửu; Thân, Tý, Thìn kiến Thìn; Hợi, Mão, Mùi kiến Mùi.
Dần, Ngọ, Tuất kiến Tuất tức là người sinh trong 3 năm: Dần, Ngọ, Tuất mà trong tứ trụ chữ Tuất là có sao Hoa cái. Hoặc người sinh trong ba ngày Dần, Ngọ, Tuất mà trong tứ trụ thấy chữ Tuất cũng là có sao Hoa cái.
Ví dụ : sinh giờ Tuất - mồng 1 - tháng 9 -1982
Nhâm Tuất - Quý Mậu - Canh Tuất - Nhâm Tuất
Trong tứ trụ này trên tháng có chữ Tuất, là có sao Hoa cái.
Ví dụ : sinh giờ Ngọ - ngày 12 - tháng 12 - 1982
Mậu Ngọ - Quý Sửu - Quý Sửu - Nhâm Tuất
Trong ví dụ này chi năm là Tuất, nhưng trong tứ trụ không có Tuất nên không có sao Hoa cái. Nhưng trên ngày là Sửu, căn cứ "Tỵ, Dậu, Sửu kiến Sửu", thì sao Hoa cái của Sửu trong tứ trụ có thấy
chữ Sửu, nên Sửu của thágn là sao Hoa cái.

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa


7. Thiên la, địa võng.

Thiên la, địa võng phần nhiều chủ về phạm hình pháp, nên trong tứ trụ có Thiên la, địa võng thì nên tôn trong pháp luật là tốt nhất, đừng làm liều làm bậy, nếu không sẽ khó trãnh khỏi bị lao tù.
Thiên la, địa võng lại còn chủ về bị thương, đau ốm. Chỉ cần khổ công rèn luyện thì có thể tránh được tai họa, bệnh tật.
Thìn là thiên la, tuất là địa võng.
Người có Thìn thấy Tỵ, người Tỵ thấy Thìn là Thiên la. Người Tuất thấy Hợi, người Hợi thấy Tuất là Địa võng. Người mệnh Hỏa, gặp Tuất, Hợi là Thiên la.
Người mệnh Thủy gặp Thìn, Tỵ là Địa võng. Nam kỵ Thiên la; nữ kỵ Địa võng.
Về thuyết Thiên la, Địa võng, người xưa lấy chi năm làm chủ, cũng có người lấy chi ngày làm chủ. Trong thực tế, trong chi ngày, chi nưm mà có thì đều không tốt, chỉ khác ở mức độ mà thôi. Cách
tra: giống như cách tra quý nhân phù trợ.
Ngày Tân Hợi là trong tuần Giáp Thìn, theo câu: "trong tuần Giáp Thìn thì Dần, Mão không". Trong tứ trụ chữ Dần là Tuần không, cũng gọi là rơi vào chỗ không. Ví dụ: hôm nay lấy quẻ để đoán
cầu tài, trong hào của quẻ lấy "Dần mộc là hào tài", vậy cái tài này chỉ mới đến ngày Giáp dần (tức ngày 19/3) hoặc ngày At mão (ngày 12/3) mới đến tay; cái đó gọi là xuất không thì không còn là không cho nên thành sự.


VIII. MỐI QUAN HỆ GIỮA
ÂM DƯƠNG, NGŨ HÀNH VÀ CƠ THỂ


Học thuyết âm dương, ngũ hành và thiên can, địa chi tương truyền là Đổng Trọng Thư đời Han sáng tạo ra và đưa vào mệnh học. Cách nói này tuy không đủ để tin, nhưng Đổng Trọng Thư về mặt này tối thiểu cũng là có sự phát triển to lớn. Ngày nay chúng ta từ hai phương diện : y học và vận hạn
con người sẽ bàn một cách thiết thực về sự ẩnh hưởng của âm dương ngũ hành và thiên can địa chi đối với con người.
1. Từ bệnh tật để xem xét ảnh hưởng của âm dương, ngũ hành thiên can, địa chi.

Am dương, ngũ hành là các danh từ triết học trừu tượng. Muốn nói rõ tác dụng và mối quan hệ
của nói với nhân thể trong lĩnh vực khoa học thì không thể tách rời khỏi bát quái, thiên can, địa chi.
Vì trong bát quái, thiên can, địa chi chỉ ra một cách rõ ràng các thuộc tính của âm dương, ngũ hành
mà những thuộc tính nỳa lại là tiêu chí cụ thể về các thông tin của nhân thể. Cho nên âm dương, ngũ hành, thiên can, địa chi không những nói rõ sinh lý, bệnh lý và sự biến hóa của khí hậu có ảnh hưởng
lớn đối với nhân thể mà nói còn rõ nhân thể với hoàn cảnh bên ngoài là một chỉnh thể thống nhất :
thiên, nhân tương ứng.
Đầu tiên nói về hai khí âm, dương. Trong sách "Am dương ứng tượng địa luận" nói: "Am thắng
thì Dương bệnh, Dương thắng thì Am bệnh". Hai khí âm dương trong cơ thể cân bằng lẫn nhau. Nếu
khí dương lệch về thắng, khí âm tất sẽ hư tổn; khí âm thiên về thắng, khí dương cũng hư tổn. Như vậy người sẽ bị bệnh, thâm chí bị chết. Trong "Mạch giải thiên", đối với nguyên nhân sinh một số bệnh

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

đã giải thích rất cụ thể: "Người bị tai ù là do dương khí của vạn vật thịnh vượng quá nên tai ù, nếu bị nặng thì có thể điên. Dương ở trên, mà âm khí ở dưới, dưới hư trên thực, cho nên bị điên". Do đó trăm bệnh sinh ra đều do khí.
Lại từ ngũ hành để xem xét, "Tổ vấn trạch thích" có nói: "Hợp nhân hình thì lấy phép tứ thời
của ngũ hành mà trị ... Ngũ hành đó là kim, mộc, thủy, hoả, thổ rất lợi hại. Qua nó biết được sống hay chết, thành hay bại, nặng hay nhẹ, khi nào thì chết. Nhân thể là một thể âm dương đối lập cực kỳ phức tạp. Trong y học đã sớm căn cứ vào âm dương ngũ hành, thiên can, địa chi để sắp xếp các bộ vị,
các tổ chức khí quan trong cơ thể, định ra người thịnh hay suy, chẩn đoán và chữ trị bệnh tật. Cho nên
âm dương, ngũ hành, thiên can, địa chi không những để nói rõ công năng sinh lý, bệnh tật biến hóa
của cơ thể mà còn để chỉ đạo việc chẩn đoán và chữ bệnh. Để nói rõ vấn đề này chúng ta lập ra bảng âm dương ngũ hành, thiên ca, địa chi phối với tạng, phủ dưới đây.

Ngũ
hành
Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy

Thiê n can
Dương giáp
Am ất
Dương bính
Am đinh
Dương mậu
Am kỷ
Dương
canh
Am tân
Dương
nhâm
Am quý

Địa chi
Dần Mão Ngọ Tỵ Thìn tuất
Sửu mùi
Thân Dậu Tý Hợi

Tạng


Phủ
Gan Tim Lá
lách
Mật Ruột Dạ
Phổ Thận


Ruột Bàng

non dày già
quang


Thiên can, địa chi phối với tạng phủ, căn cứ vào sự vượng suy của bố mùa và chủ mệnh của mỗi
năm, là có thể biết được thời gian nào thì lưu hành bệnh gì. Trong sách "Khí giao biến đại luân" có nói: "Năm mộc thái quá, gặp gió nhiều thì tỳ thổ bị bệnh. Hỏa thái quá, nhiệt lưu hành, kim phế bị bệnh. Năm thổ thái quái phong thấp lưu hành, thận thủy bị bệnh. Năm kim thái quá, táo nógn lưu hành, can mộc bị. Năm thủy thái quá, hàn lưu hành, bệnh tại tâm hỏa". Trong sách "Tàng khí pháp thời luận" có nói: "Bệnh tại can khỏi vào mù hạ, hạ không khỏi sẽ nặng vào mùa thu, thu không chết kéo dài vào đông, lại khởi bệnh từ mùa xuân. Người bệnh gan khỏi ở Bính đinh, Bính đinh không khỏi
sẽ nặng thêm ở Canh tân, Canh tân không chết sẽ kéo dài đến Nhâm quý. Lại khởi đầu ở giáp ất..." Thuộc tính âm dương, ngũ hành của tạng phủ con người cũng giống như âm dương, ngũ hành trong thiên can địa chi, mà kim, mộc, thủy, hỏa, thổ lại khác nhau 4 thời suy vượng, cho nên Mộc vượng quá, tỳ sẽ bị khắc, do đó tỳ bị bệnh. Hoặc là nói ở thời điểm của một người, Mộc nhiều hoặc Mộc vượng mà Thổ suy, thì tỳ của người đó nhất định sẽ có tât. Do đó làm rõ mối quan hệ sinh khắc giữa thiên can, địa chi và cơ thể là rất quan trọng, từ đó có thể đề phòng bệnh tật một cách có hiệu quả và biết được bệnh nặng, nhẹ, cát, hung.


2. Từ vận khí tốt xấu của con người để thấy được ảnh hưởng của can chi.

Học thuyết vận khí là môn khoa học để tìm ra quy luật vận động của khí tượng trong y học cổ
đại của Trung Quốc, sau đó phát triển thành thiên văn vận khí học, hải dương vận khí học, khí tượng học khí học, y học vận khí học,, v. v. ... Tóm lại vận khí đối với vạn vất mà nói là khách quan tồn tại.

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

Cho nên vạn vật có thủy, có chung; đế vương có hưng có suy; con người có cát, có thung, tất cả đều nằm trong ngũ vận.
Con người đối với trời đất, đối với sự biến hoá nóng lạnh giao thời của thời tiết có những hiểu biết nhất định. Đối với các lĩnh vực khác, khoa học ddeeuf thừa nhận có vận khí, vậy con người cũng
có vận khí là điều đương nhiên. Vì con người cũng là một loài trong vạn vật, nó cũng bị ảnh hưởng cdo sự vận động của các thiên thể, cũng bị tác động tốt và xấu của vận khí.
Cái gì gọi là vận? Cái gì gọi là khí? Tôi cho rằng vận là hành, khí là khí của âm dương. Sự vận động của hai khí âm dương tồn tại hai trạng thái: cân bằng và không cân bằng. Khi không cân bằng
thì sự vật sẽ không có một quy định rõ ràng về chất; khi cân bằng, sự thống nhất của mâu thuân sẽ không bị phá vỡ, cho nên sự vật này không thể chuyển hó thành sự vật khác. Mà sự cân bằng và không cân bằng này, sự phá hoại và trưởng thành đều phát sinh dưới điều kiện nhất định và tại thời điểm nhất định. Thời điểm và điều kiện này chính là toàn bộ quá trình phát triển và biến hóa của sự vật. Trong quá trình này gặp được khí tương sinh và lợi; gặp khí tương khắc là hại. Cho nên sự vật trong quá trình vận hành gặp được khí tương sinh hay tương khắc đều gọi chung là vận khí.
Mùa xuân cỏ cây vượng, đến mùa thu lại khô đi, sự thay đổi của mùa tiết đối với con người cũng như thế. Do đó trong "Thiên nguyên kỷ đại luân" có nói: "Trời có 5 hành ngự ở 5 ngôi để sinh
ra hàn, nhiệt, táo, thập, phong người có 5 tạng hóa thành 5 khí để sinh ra: mừng, giận, suy nghĩ, lo lắng, sợ hãi"
Trên đây đã nói thiên can địa chi phối với tạng phủ để đoán bệnh tật, bây giờ nói đến giờ sinh,
sự sắp xếp của thiên can địa chi và vượng suy ảnh hưởng đến khí vận của con người.
Lấy thời gian sinh của con người theo năm, tháng, ngày, giờ phối với thiên can địa chi để đoán, phương pháp này đã trãi qua hai giai đoạn lịch sử: Ban đầu là Lý Hư Trung của đời Đường. Ong đã dựa theo tháng, năm, ngày sinh để phối với thiên can, địa chi đưa đến cách đoán thông tin. Đến đời Tống. Từ Tử Bình phát triển thành theo năm, tháng, ngày, giờ sinh để phối với thiên can đia chi. Cách phối này chính là 8 chữ, nên gọi là "8 chữ". Sau phát minh "8 chữ", lại phát minh ra cách sắp xếp của người. Do đó là dùng thiên can, địac hi của thời điểm sinh để sắp xếp "vận khí". Việc đưa thiên can,
địa chi của năm, tháng, ngày giời sinh vào dự đoán tin tức lại là 1 lần phát minh lớn của nhân dân nước ta trong dự đoán thông tn. Phát minh này có thể đoán được cát hung, họa phúc của cả đời người,
đó là sự dự đoán khá toàn diện tuy rất khó nắm bắt, nhưng độ chuẩn xác lại rất cao.
Thiên can địac hi trong năm, tháng, ngày, giời sinh của một người không chỉ là tiêu chí thông tin
về trạng thái và bệnh tật của người đó mà cũng là tiêu chí thông tin tốt xấu của cả đời. Dùng phương pháp thiên can địa chi để đoán cũng là lấy nguyên lý âm dương biến hóa, lấy ngũ hành vượng suy, sinh khắc để chế hóa làm quy tắc. Ví dụ nói: ngày sinh của mình là mộc lại bị năm sinh khắc, hoặc
giả trong tứ trụ Kim nhiều, chắc chắn cả cuộc đời sẽ không thuận lợi. Nếu ngày sinh là Mộc, trong tứ
trụ có Thuỷ tư dưỡng, ngũ hành bình thường, như thế vừa đắc thời vừa đắc địa, cả cuộc đời nhất định thuận lợi. Để nói rõ vấn đề này, dưới đây xin cử ví dụ.
1. Quý Mùi - At mão - Giáp Tý - Kỷ Tỵ.
Đây là tứ trụ tháng Giêng năm 1987 có hai người khi đến thăm tôi tặng tôi lễ vật và nhờ tôi đoán. Tôi xem trong tứ trụ có can chi của năm mà không nói rõ năm nào. Trong 60 năm chỉ có 1 năm Quý mùi, trong 600 năm chỉ có 10 năm Quý Mùi 6.000 năm có 100 Quý Mùi. Tôi hỏi hai người đó: Quý Mùi của năm nào? Khách trả lời: Xin ông đừng hỏi cứ thế tuỳ ông đoán.

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

Một tứ trụ mà không có năm cụ thể như thế, đây là lân đầu tôi gặp, nên đành dùng phương pháp tính tứ trụ và gieo quẻ để đoán. Tôi nói: Tứ trụ này là nam, người cao, đang đẹp, vợ của ông ta cũng khá đẹp, quan hệ vợ chồng rất tốt. Tử tức (con) đầu nếu là nam thành người; nếu là nữ có thể lớn bình thường được. Khách nói: mấy điểm ông đoán đều đúng, bây giờ nhờ đoán thêm là làm gì? Là nông dân, công nhân, cán bộ hay thầy giáo hoặc là nhà doanh nghiệp?
Tôi khẳng định nói: chẳng là gì cả, là tướng soái cầm quân đánh giặc. Khách nói: Đúng! Ong xem năm 39 tuổi vận khí người đó thế nào? Tôi tính toán đại vận là tân Hợi, tiểu vận là Canh Dần,
lưu niên là Tân Dậu. Trong giờ lại ẩn chứa Thất sát canh kim. Mà can này là Giáp mộc là gặp Canh Tân kim quan sát, rất hỗn tạp, ngũ kim (5 kim) vây, khắc 1 giáp mộc, giáp mộc bị khắc vô sinh cho nên nhất định phải chết. Tôi nói: Năm 39 tuổi, nửa năm đầu có công, nửa năm sau nhất định gặp tai họa lơn. Hai người khách kinh ngạc, cùng nói to: Hoàn toàn đúng, đây là tứ trụ của anh hùng dân tộc Nhạc Phi.
2. Tháng 12 - 1986, tôi đoán vận cho bà X. Căn cứ ngày giờ sinh của bà ấy, tôi sắp xếp đại, tiểu vận, lưu niên, đoán năm 1987 thời gian nửa năm đầu bà bị nạn nát thân, đặc biệt dặn dò rất kỹ tháng
3, tháng 4 dương lịch không được đi công tác về phía tây bắc và dặn cho phương pháp giải hạn. Bà ấy không những không làm theo mà ngày 14/4/1987 lại đi công tác hướng Tây Bắc, trên đường trở về bị
tai nạn ô tô nên ngực bị dập nát mà chết, đúng là nạn nát thân, vào dịp tháng 3 âm lịch.
Bây giờ ta xem lại tứ trụ và đại tiểu vận của bà đó. Sinh giờ Mão, mồng 7 tháng 3 năm 1964.
Đại vận: Bính dần 15 đến 24 tuổi gặp tử địa.
Tiểu vận: Kỷ Mão, Dậu kim xung khắc với Thái tuế mão mộc.
Lưu niên: Đinh Mão. Mão mộc là thái tuế không thể xem thường được.
1) Vì sao đoán năm 1987 (năm Đinh Mão ) bà ta bị nạn nát thân?
Vì trong tứ trụ ngày Đinh dậu, giờ là Quý Mão đúng là thiên khắc, địa xung. Chi ngày là Dậu
(kim) gặp đúng Thái tuế năm Mão. Mão - Dậu cùng xung khắc tất bị phá, lại xung khắc Thái tuế nên
là đại hung.
2) Tiểu vận: Kỷ mão, lưu niên Thái tuế là Đinh mão, giờ là Quý Mão, trong tứ trụ có Dậu - (kim), vừa đúng tạo thành 1 Dậu xung 3 Mão hay 3 Mão xung 1 Dậu, đó là đại hung.
3) Ví sao lại đoán tháng 3, tháng 4 dương lịch không được đi phương tây bắc?
Vì thời gian này đúng là tháng 3 âm lịch. Trong tứ trụ của bà ấy năm là Giáp thìn, tháng là Mậu thìn, tức đã có hai Thìn (Thổ, tháng 3 năm 1987 cũng là Giáp thìn, phương tây bắc là Tuất như thế sẽ
tạo thành 3 Thìn xung 1 tất, đó cũng là đại hung.
4) Đại vận gặp tử đại là điềm hung.
Tôi căn cứ những thông tin đã đoán ở trên đoán năm 1987 bà ấy gặp nạn nát thân, tháng 3, tháng 4 không được đi phía tây bắc, nếu không hậu quả rất nghiêm trọng. Kết quả hai ô tô đâm nhau
(vì cùng xung khắc) ngực dập nát nên chết. Như vậy thời gian và phương hướng đều ứng nghiệm cả.
3. Tháng 2 - 1989, lúc đó tôi đang giảng bài ở Quảng Châu gặp một người có án bị hung sát, chết. Nghiên cứu vì sao chết năm 1988, tìm giờ sinh để sắp xếp tứ trụ và đại tiểu vận tìm ra nguyên nhân chết.
Sinh giờ Dần - ngày 15 - tháng 8 - 1952
Nhâm Dần - Nhâm Ngọ - Kỷ Dậu - Nhâm Thìn. Đại vận: Quý Sửu: suy địa.

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

Tiểu vận: Canh Thìn: Thìn là khô nước, mộ địa
Lưu niên: Mậu Thìn. Thìn là kho nước, mộ địa.
1) Trong tứ trụ "Thìn, Dâu, Ngọ là tự hình"
2) Trong tứ trụ ba Nhâm là kiếp tài ngang hòa, vì của hoặc do quan hệ nam nữ mà gặp họa kiếp
sát (thực tế là vì của mà chết)
3) Can ngày là Nhâm (thủy) sợ Thổ khắc; đại vận, tiểu vận, lưu niên là 3 Thổ chồng chất khắc thân thể, có khắc mà không có sinh nên chết.
4) Trong tứ trụ chi năm có 1 Thìn (thổ), lại gặp tiểu vận, lưu niên có hai Thìn (thổ). Tứ trụ lại là
3 Nhâm (thủy) nên vừa đúng hợp thành 3 Thìn (thổ ) khắc 3 Nhâm (thủy), tức là tam mộ thu vào 3
nhâm nên gặp nạn hung tử. "Hoàng đế nôi kinh" nói: "Giữa trời đất, trong lục hợp, khí của nó 9 châu,
9 khiếu, 5 tạng, 12 tiết đều là thông với khí trời". Thiên can địa chi trong giờ, ngày, tháng, năm sinh
của người ta đều là những tiêu chí cụ thể của khí âm dương ngũ hành trong cơ thể, cũng là tiêu chí thông tin vận mệnh tốt xấu của cả một đời. Nhân thể là sản phẩm âm dương ngũ hành, tương sinh tương khắc diễn biến trong tự nhiên, cho nên nhân thể thông thương với tự nhiên. Nhân thể và thiên
thể sở dĩ cùng cảm ứng lẫn nhau được để trở thành một thể thống nhất đó là vì nhân khí và thiên khí thông nhau, cho nên âm dương ngũ hành của thiên thể tương sinh tương khắc gây ra mọi sự biến hóa. Đối với cơ thể con người, vận mệnh con người đều có ảnh hưởng rất quyết định vì sinh mệnh của cuộc sống con người cũng diễn ra theo quy luật đối lập thống nhất của âm dương ngũ hành, tương sinh tương khắc. Do đó vận mệnh con người không thể đi ngược lại quy luật này.
Ba ví dụ chết người ở trên không những nói rõ sự sắp xếp của thiên can địa chi trong tứ trụ là tiêu chí nói lên ảnh hưởng của âm dương ngũ hành, tương sinh tương khắc đối với con người mà nói
lên con người giống như vạn vật đều có quá trình phát triển, hưng suy, tử vong. Quá trình này chính là vận khí mà ta hay nói.
Người xưa lấy sự sắp xếp thiên can địa chi trong tứ trụ gọi là "mệnh", lấy các giai đoạn trải qua
của 1 cuộc đời gọi là "vận", hai cái kết hợp lại gọi là "vận mệnh". Đoán vận mệnh tốt xấu của một người vừa phải xem sự sắp xếp tốt của tứ trụ, vừa phải biết tính tính toán tốt. Sắp xếp tứ trụ tốt, tính toán tốt là tốt nhất. Sắp xếp tứ trụ tốt mà tính toán không tốt thì những khó khăn gặp phải là tạp thời.
Tứ trụ sắp xếp không tốt, lại gặp vận không tốt đương nhiên là "đã tuyết còn thêm sương" (đã xấu lại
xấu thêm). "Dỡ nhà lại gặp mưa dầm". Tứ trụ sắp xếp không tốt mà gặp vận tốt thì cái tốt này không bền. Mệnh và vận nếu đem so sánh đương nhiên là tứ trụ tốt là tốt nhất (Mệnh tốt hơn vận tốt).
Vận mệnh của mình tự mình nắm vững, đó là đúng. Nhưng không hiểu vận mệnh của mình thì không có cách gì nắm vững được mệnh của mình. Giống như anh không hiểu phương pháp và quy luật
lái xe thì không có phương hướng để nắm vững xe và lái tốt được. Cho nên người ta muốn nắm vững mệnh vận của mình thì đầu tiên phải hiểu được mệnh vận đó, muốn hiểu được mệnh vận của mình biện pháp duy nhất là phải thông qua dự đoán toàn diện đối với mình, biết được cát hung, nắm vững thời cơ có lợi để làm những việc nên làm, đối với việc xấu phải chú ý đề phòng, cố hướng về phía cát tránh phía hung, chỉ có như thế mới có thể thực hiện được tự mình nắm vững vận mệnh mình. Nếu không sẽ là nói suông. Một nước có mệnh vận tốt xấu của nước đó, con người cũng thế, từ hoàng đế đến dân thường đều có vận mệnh riêng.
Về "mệnh vận" là "trời" đinh, tôi cho rằng không thể nói như thế được. "mệnh vận" là sản phẩm của âm dương ngũ hành tự nhiên tương sinh tương khắc mà thành, các sự vật khác cũng giống
tự nhiên đều là sự vận động của các thiên thể gây nên, không chịu một ý chí thiên mệnh nào quyết định cả.

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa


3. Những người cùng giờ sinh, mệnh vận có giống nhau không?

Có người bạn nói chuyện với tôi về mệnh vận. Anh ta nói: tôi cực lực phản đối thuyết con người
có mệnh vận và nêu ra một số lý do để chứng minh quan điểm của mình là đúng. Ví dụ, nếu có người
nói con người có mệnh vận, thế thì những người sinh cùng năm, tháng, ngày, giờ, phút, giây vì sao chỉ
có một người làm vua. Nước ta có rất nhiều người giờ sinh như nhau, mệnh vận của họ nên giống nhau mới đúng, tại sao lại không giống? Luận điểm của anh ta rất rõ ràng, chỉ cần cùng thời gian sinh
thì mệnh vận sẽ như nhau, không thể khác nhau tí nào hoặc phân thành suy vượng được. Tôi hỏi anh
ta: ngày cùng là ngày cả thế tại sao còn có xuân hạ thu đông, có nóng lạnh khác nhau? Đất cũng là cùng một quả đất, vì sao có chỗ nước, chỗ không, chỗ cao, chỗ thấp? Cùng một mảnh đất, cùng một
hạt lúa, cùng trồng sáu tháng vì sao có cây cao, cấy thấp? Cũng một cành cây, tại sao có quả to, quả nhỏ. Nhân thể là một khối thống nhất, tại sao công năng của lục phủ, ngũ tạng lại có cái mạnh, cái yếu, có cái tốt, cái xấu? Vì sao có người chỉ có gan mộc khối u, còn các phủ tạng khác thì lại tốt? Tôi
lại nói cơ thể con người là thống nhất, lục phủ ngũ tạng ở trong mình là tự người mẹ sinh ra, tất cả cùng giờ sinh thế mà chỉ có gan mọc khối u còn những tạng phủ khác thì không bị. Vậy giữa chúng quả thực có sự khác nhau rất lơn.
Ong bạn ấy nghe tôi nói đã hiểu được vấn đề và nói lại là: "Ừ, đúng nhỉ! Lục phủ ngũ tạng đều cùng một giờ sinh, thế mà lại khác nhau rất lơn, thật đáng nghiên cứu ...". Tôi nói với anh ta: "tổ tiên chúng ta từ lâu đã nghiên cứu ra rồi, đó là lục phủ ngũ tạng đều có âm dương, có ngũ hành tương sinh tương khắc, mỗi cái chủ suy vượng của 4 mùa, cho nên cùng một giờ sinh, nhưng khác nhau rất lơn".
Những người cùng giờ sinh, vì sao mệnh lại không giống nhau? Nguyên nhân rất nhiều, không
có cách nào để giải thích cho rõ ràng, tỉ mỉ được. Tôi chỉ nói vắn tắt như sau:
1) Phương vị khác nhau, như phương nam là hỏa, phương đông là mộc, phương bắc là thủy, phương tây là kim. Người mệnh hỏa nhưng sinh ở phương nam hay phương bắc sẽ khác nhau. Phương nam là đất hỏa vượng, phương bắc bị thủy khắc cho nên không như người sinh ở phương nam.
2) Năm mệnh của phụ mẫu khác nhau.
3) Năm mệnh của anh chị em khác nhau.
4) Năm mệnh hôn nhân khác nhau.
5) Năm mệnh của con cái và số con đều khác nhau.
Vì năm mệnh của những người trong gia đình khác nhau, mức độ ngũ hành sinh khắc sẽ khác nhau, do đó ảnh hưởng đối với con người cũng sẽ khác nhau. Ví dụ có một người mệnh Mộc, cha mẹ đều là mệnh Kim, đều khắc anh ta. Có người tuy cũng là mệnh Mộc, nhưng cha mẹ đều là mệnh Thủy, thủy sinh mộc. Người bị khắc cuộc sống sẽ không thuận, người được tương sinh cuộc sống sẽ thuận.
6) Nam nữ khác nhau, do đó mà có sự vận hành thuận, nghịch khác nhau.
7) Tướng mặt, vân tay không giống nhau cho nên việc nó làm chủ cũng khác nhau.
8) Cốt tướng của người khác nhau.
9) Mộ tổ, nhà ở khác nhau, phương vị khác nhau. Ngày xưa đã có câu "Nhất mộ, nhì phòng (nhà
ở), tam bát tự", tức là nói mệnh vận tốt, xấu của một người, thứ nhất quyết định ở phong thủy phần
mộ ông cha tốt hay xấu; thứ hai quyết định ở phong thủy của nhà ở; thứ ba quyết định ở sự sắp xếp tổ hợp của tứ trụ. Cho nên, cho dù ngày giờ sinh giống nhau, nhưng phần mộ tổ tiên và nhà ở không hoàn toàn giống nhau được.

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

10) Gen di truyền của mỗi người khác nhau.
11) Hoàn cảnh, điều kiện gia đình của mỗi người khác nhau.
12) Điểm sáng của sao chỉ có một. Tuy có hàng nghìn, hàng vạn người cùng giờ sinh, nhưng điểm sáng của sao trực ban quyết không phải người nào cũng nhận được. Nếu điểm sáng này chiếu đúng vào nhà một người nào đó, hoặc đúng lúc người mang thai đang sinh, người đó có thể sẽ là hoàng đế, còn những người khác thì không làm nổi hoàng đế. Nếu có một tạp chí nào đấy đã thông báo: bố mẹ Mao Trạch Đông đều không đồng thời nhìn thấy vầng đỏ phía đông phòng họ rồi sau đó mang thai Mao Trạch Đông, đương nhiên vầng đỏ này không phải là tất cả các bậc bố mẹ của những người cùng giờ sinh đều thấy được.
Có một câu chuyện như sau:
Chu Nguyên Chương đời Minh sau khi đã làm Hoàng đế nghĩ rằng, mình đã làm vua và những người cùng giờ sinh với mình cũng là "mệnh Hoàng đế" cả, nếu không giết hết họ sau này sẽ có người tranh ngôi. Do đó ông đã ra lệnh giết, giết loạn mà không thương tiếc. Khi giết đến nửa chừng, Chu Nguyên Chương lại nghĩ nên bắt mấy người cùng giờ sinh với ông đến để hỏi xem họ làm nghề
gì, sau đó giết cũng chưa muộn. Chu Nguyên Chương hỏi một người trong số đó: "Ong làm gì?" - "Nuôi ong" - "Nuôi bao nhiêu ong?" "Nuôi 9 tổ", tất cả mấy vạn con"...
Chu Nguyên Chương sau khi nghe, vừa sợ vừa mừng: mình làm Hoàng đế thống trị cả 9 châu, 9
chư hầu. Ong ấy nuôi 9 tổ ong, có 9 ong chúa. Số ong của ông ấy nuôi và số người của mình cai trị đại
thể giống nhau. Xem ra mình và ông ta không đều là Hoàng đế của người cả, làm hoàng đế của người
chỉ có một mình, còn người khác, có người làm vua của ong, có người làm vua của tằm, có ngừơi làm vua của cá..... Do đó Chu Nguyên Chương cảm thấy yên tâm và ngừng lệnh giết những người cùng ngày sinh.
Về vấn đề vận mệnh của những người sinh đôi có giống nhau hay không, có thể nói không hoàn toàn khác nhau. Vì cho dù cùng sinh trong một giờ, nhưng có trước có sau. Nếu không cùng sinh trong một giờ thì khác biệt còn rõ hơn nữa. Tôi đã sơ bộ điều tra thấy rõ, những người sinh đôi sau khi kết hôn thì sai lệch rất rõ, nguyên nhân là vì những người bạn đời họ chưa ít khi đều cùng một năm mệnh, cũng không thể cùng giờ sinh. Như vậy các thành viên tổ thành gia đình, này phát sinh ra biến hóa, ngũ hành sinh khắc cũng đồng thời phát sinh biến hóa, cho nên mệnh vận của hai người sẽ khác nhau.
Vạn vật trong tự nhiên, thậm chí là trong cùng một sự vật, sự phát triển biến hóa còn không đồng đều, huống hồ những người cùng một ngày sinh làm sao mệnh vận lại giống nhau được.
Do đó sự tổ hợp thiên can địa chi trong năm, tháng, ngày, giờ sinh của mỗi người là nhân tố nội
tại của mệnh vận tốt hay xấu, là căn cứ của sự biến hóa, nhân tố bên ngoài chỉ là điều kiện để biến hóa. Sự sắp xếp của thiên can địa chi, khí âm dương ngũ hành có mối quan hệ rất mật thiết với con người, đương nhiên chúng ta không phủ định sự nỗ lực chủ quan. Ví dụ trong tứ trụ có tiêu chí thông
tin học đến đại học, nhưng không đọc sách, không nỗ lực học tập, chắc chắn là không tốt nghiệp đại học. Do đó muốn đạt được mục địch dự tính, ngoài nhân tố tiên thiên còn phải cộng thêm sự nỗ lực
của hậu thiên.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét