III. NGÔI CỦA QUẺTrong quẻ từ và hào từ của sáu mươi tư quẻ trong "Kinh dịch", vốn không nói về ngôi quẻ. Trong "Hề từ" tuy nói "bỉ, cao là trầm; quý, hèn là ngôi", "tượng" nói về "ngôi" rất nhiều, có "ngôi cương" "được ngôi" v. v. ... "Thuyết quái" có "trời đất định vị" "có quân thần sau đó mới có trên dưới" v. v. ... đều là nói về "ngôi" nhưng chưa bàn về "ngôi quẻ". Do đó có thể khẳng định thuyết "ngôi quẻ" là người đời sau căn cứ vào " ngôi" đã nói ở trên và trong ứng dụng dự đoán, trong kinh nghiệm thực tiễn mà tổng kết ra.
Những kinh nghiệm này rất quý, rất quan trọng, là phần không thể thiếu được trong dự đoán thông tin. Nó đã cung cấp cho người đời sau các điều kiện đáng tin cậy và có lợi để dự đoán thông tin. Lúc tôi dự đoán thường dùng ngôi quẻ, ngôi hào để định việc, định người, định vật, thực tiễn chứng minh là rất chính xác. Ví dụ ngày 24 tháng 8 năm 1986 khi dự đoán quẻ 'vị tế" về "trời sét", quẻ động là quẻ "mông" trong đó đã dùng phương pháp đoán "ngôi", kết quả rất chuẩn.
Ngôi của bát quái chính là ngôi của hai quẻ kinh ghép với nhau. Ngôi của quẻ thuộc về tượng quẻ, tượng quẻ bao gồm ngôi quẻ.
Ngôi quẻ có tất cả bảy loại: 1 - hai quẻ chồng nhau thì có ngôi trên, ngôi dưới hay gọi là quẻ thượng, quẻ hạ; 2 - hai quẻ chồng nhau có ngôi trong, ngôi ngoài, còn gọi là quẻ nội, quẻ ngoại; 3 - quẻ giống nhau chồng lên nhau thì có ngôi trước, ngôi sau, tức quẻ thường là quẻ tiền, quẻ hạ là quẻ hậu; 4- hai quẻ khác nhau chồng lên nhau thì có ngôi âm, ngôi dương, còn gọi là quẻ âm, quẻ dương. Như quẻ ngoài âm trong dương; 5 - hai quẻ chồng lên nhau có ngôi cứng, ngôi mềm, như quẻ ngoài cứng trong mềm; 6 - cùng một quẻ chồng lên nhau thì có ngôi song song hoặc ngôi trùng nhau;
7 - hai một quẻ chồng lên nhau có ngôi xa, ngôi gần, ngôi ngoài là xa, ngôi trong là gần.
Bảy loại này khi dùng sẽ thấy mỗi loại có hàm thức khác nhau. Ví dụ khi dụ đoán về nạn lụt, quẻ ngoại có nước, quẻ trong không có nước tứ là vùng ngoài có thủy tai, vùng trong( vùng bản địa) không có thủy tai, vùng xa có nạn lụt, vùng gần không có, không thể giải là phía trên có lụt, phía dưới không có lụt; cũng không thể nói ngôi cứng có lụt, ngôi mềm không có. Tóm lại, phương pháp dùng của
CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa
ngôi quẻ, ngôi hào là căn cứ vào sự việc dự đoán cụ thể mà định, điều đó rất biện chứng, không phải nhất luận như nhau.
Tượng hào
IV. TƯỢNG HÀO, SỐ HÀO
Quẻ có tượng quẻ, hào có tượng hào, đầu tiên có tượng hào sau đó mới có tượng quẻ. "Hệ từ" nói" quan biến dư âm dương nhi lập quẻ" (xem âm dương biến mà lập quẻ) cho nên tượng hào cũng chính là âm dương vậy. Tương hào chỉ có hai loại tức là hai phù hiệu cơ bản cấu tạo thành bát quái: hào âm ( ), hào dương ( ).
Hào dương tượng trưng cho dương , trời, vua, quân tử, đại nhân, cha, đàn ông, số lẻ, vật dương tính, cứng, mạnh, động,v.v....
Hào dương tượng trưng cho đát, người dân, tiểu nhân, mẹ, đàn bà, số chẵn, vật tính âm, mềm, yếu, tĩnh, v.v....
Số hào
Số hào nguồn gốc là từ "số của trời đất cộng lại 55". Lấy số sáu vạch của tượng quẻ mà dùng cho 49 quẻ. Số hào của quẻ là số ngôi của hào trong quẻ đó.
Một quẻ có sau hào, cách tính số hào là kể từ dưới lên trên. Hào thứ nhất gọi là hào đầu, hào thứ hai là hào hai ..., hào thứ sáu là hào thượng.
Để phân biệt âm dương, hào dương dùng số chín, hào âm dùng số sáu. Cho nên hào dương gọi
là "cửu sơ" "cửu nhị" ... "cửu ngũ" "cửu thượng". Hào âm của quẻ âm gọi là "lục sơ", "lục nhị" ... "lục thượng". Trong một quẻ có hào âm, hào dương thì căn cứ vào ngôi thứ của hào rồi thêm vào phía trước đó một chữ "lục" hay "cửu" là được.
Quẻ càn nhiều hơn một hào "dụng cửu", quẻ khôn nhiều hơn một hào "dụng lục". Hai quẻ này mỗi quẻ có bảy số hào. Những quẻ khác đều không có hai hoà này. Vì quẻ càn biến thành khôn phải
lấy "hào từ" "dụng cửu" để định cát, hung; quẻ khôn biến thành càn cũng phải lấy "hào từ" "dụng lục" định cát hung.
V. NGÔI HÀO
"Thuyết quái" nói: "Đạo lập thiên gọilà âm với dương; đạo lập địa là mềm với cứng; đạo lập
nhân là thiện với ác. Đủ cả tam tài mà chỉ có hai yếu tố, cho nên "biến" sáu vạch mà thành quẻ, chỉ
có âm dương, chồng lên nhau mà thành cương nhu, nên "biến" cả sáu ngôi mà thành tất cả". Tam tài
đó là thiên, địa, nhân vậy.
1. Ngôi thiên, ngôi nhân, ngôi địa: một quẻ có sáu hào, hào năm và hào sáu là ngôi thiên, hào
ba và hào bốn là ngôi chân; hào đầu và hào hai là ngôi địa. Hào năm, hào ba, hào đầu là ngôi chính của thiên, nhân, địa.
2. Ngôi thượng, ngôi trung, ngôi hạ: hào thượng của một quẻ là ngôi thượng. Hào trung của quẻ thượng và hào trung của quẻ hạ là ngôi trung, hào đầu là ngôi hạ.
3. Ngôi dương, ngôi âm: một quẻ có sáu hào, hào sơ hào ba, hào năm là ngôi dương; hào bốn, hào hai, hào sáu là ngôi âm.
CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa
4. Đồng ngôi: một quẻ có sáu hào, quẻ nội ngoại đều có các ngôi hào thượng trung hạ. Hào sơ phía dưới quẻ nội, hào bốn ở phía dưới của quẻ ngoại là đồng ngôi; hào hai ở giữa quẻ nội, hào năm ở giữa quẻ noại là cùng ngội giữa; hào ba ở phía trên quẻ nội, hào thượng về phía trên quẻ ngoại cùng ngôi giữa; hào ba ở phía trên quẻ nội; hào thượng về phía trên quẻ ngoại cùng ở ngôi thượng.
5. Ngôi sang và hèn: "Hệ từ" nói : "thiên tôn địa bỉ, càn khôn định", "bỉ cao dỉ trần quý, tiện" (trời sang đất hèn, càn khôn đã định). Ngu Phan nói: "càn cao quý ngũ, khôn bỉ tiện nhị" (càn cao quý
ở năm, khôn bỉ hèn ở hai) ("Chu dịch tập giải"). Rõ ràng hào năm là ngôi sang của thiên từ, cái hèn của hào hai là hèn của tiểu nhân.
6. Cương nhu ở ngôi tôn quý: hào năm của mỗi quẻ là ngôi trời, ngôi vua, ngôi tôn quý. Dương
ở hào năm là dương ở ngôi tôn quý. Am ở hào năm là âm tôn quý. Ơ ngôi tôn quý như người ở đế vương.
7. Am dương được ngôi và không được ngôi: các hào đầu, hào ba, hào năm của một quẻ ở ngôi
âm là được ngôi hay gọi là xứng ngôi, chính ngôi, chính vị, tại vị. Nếu hào âm ở ngôi dương, hào dương ở ngôi âm là không được ngôi, mất ngôi, không xứng ngôi. Được ngôi giống như người ở địa vị đáng được, ở hoàn cảnh có lưọi, hoặc tài đức tương xứng với chức vụ, hoặc việc làm tương xứng với chức vụ, nếu không thì không tương xứng, không lợi. Được ngôi thì thuận lợi, không được ngội tượng trưng cho bất lợi.
8. Cương, nhu cùng thắng: một quẻ có sáu hào, năm hào ở dưới là cương, hào trên cùng là nhu. Cương thắng nhu là cương chế được nhu. Ngược lại năm hào dưới là nhu, hào trên cùng là cương. Nhu thắng cương là nhu chế được cương.
Ví dụ:
10. Nhu vượt cương: Hào âm ở trên hào dương là hình tượng giả dối, như thần
đối với vua, nữ lừa nam vậy. Ví dụ hào hai là nhu ở trên hào đầu nên là nhu vượt cương.
11. Cương nhu hương ứng: Năm nhu ứng một cương, một quẻ có sáu hào, chỉ cần một trong bốn hào ở giữa là hào dương tức là cương, những hào còn lại đều là âm, là nhu. Cứ năm nhu ủng hộ một cương là thuận, ví dụ: là dân theo vua. Ngược lại, nếu năm cương ứng với một nhu, ví dụ: ("tiểu súc") là vua theo tiểu nhân.
12. Tương ứng. Một quẻ có sáu hào, còn có hào tương ứng với hào nữa. Thứ tự tương ứng là hào đầu tương với hào tư, hào hai tương ứng với hào năm, hào ba tương ứng với hào sáu. Tương ứng là tương ứng âm dương, hòa âm dương; dương với dương, âm với âm, là không tương ứng, là âm dương
bất hòa.
13. Ngôi hào cát hung. "Hệ từ" nói: "Hai và bốn đồng công nhưng khác ngôi", tức là hào hai và
hào bốn đều là số chẵn, âm, nhu, nên lấy nhu để vãng mệnh, cho nên nói: "hai và bốn đồng công". Nhưng hào hai thuộc quẻ nội, hào bốn thuộc quẻ ngoại, do đó chung khác ngôi.
CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa
"Hai thì vinh dự, bốn thì sợ hải", tức theo từ hào, hào hai nhiều vinh dự, hào bốn nhiều lo sợ, vì trong ngôi có chia ra xa và gần. Hào hai ở giữa quẻ trong tức chỗ gần, nhiều vinh dự. Hào bốn ở quẻ ngoài, chỗ xa, nên nhiều lo sợ.
"Ba nhiều hung, năm nhiều công, nên khác nhau về cấp sang hèn". Trong hào từ, hào ba nhiều hung là vì nó ở cực của quẻ hạ, chỗ bỉ hèn. Hào năm nhiều công là vì nó ở giữa quẻ thượng, chỗ tôn quý. Hai hào này khác nhau về công và hung, nên phân ra sang, hèn vậy.
VI. SỐ CỦA ĐẠI ĐIỆN
Trong "Hệ từ", "số của đại điện là năm mươi, nhưng dùng có bốn mươi chín". Số này dùng đẻ
gieo quẻ. Nhưng số này nói cho cùng là từ đâu đến? Từ xưa đến nay đều đang tìm lời giải đáp. "Chu dịch tập giải" đã chú thích về số này như sau: "Trời cao bắt đầu từ ba trở đi đêm tiếp 5, 7, 9, không
lấy 1. Đất bắc đầu từ 2 nhưng đếm ngược lại từ 10, 8, 6, không lấy 4". Vì thế mới xuất hiện số dương
là 3, 5, 7, 9; số âm là 2, 10, 8, 6, cộng tất cả gồm tám số. Tám số này theo bát quái cùng phối lại.
Cấn là thiếu dương, số của nó là 3. Khảm là trung dương, số của nó là 5. Chấn là trưởng dương,
số là 7. Càn là lão dương số 9. Đoài là thiếu âm, số 2. Ly là trung âm, số 10. Tốn là trưởng âm, số 6. Như vậy tổng số của bát quái là 50, nên gọi là "số của đại điện". Vì số 1 và số 4 không ở trong bát quái nên số đại điện không dùng. Còn vì 1 là thái cực, bỏ đi không dùng do đó 50 bỏ đi 1, còn lại 49, nên chỉ dùng 49.
Số của đại điện là 50, vốn là số trời bỏ đi 5. Để tìm ra lai lịch số 49, cổ nhân đã dựa theo số của trời đất để diễn quẻ. Ví dụ: trời 1, đất 2, trời 3, đất 4, trời 5, đất 6, trời 7, đất 8, trời 9 đất 10. "số trời năm, số đất cũng năm", tức 1, 3, 5, 7, 9 là số trời, 2, 4, 6, 8, 10 là số đất. "Số trời là 25, số đất 30, tổng lại là 55". Cho nên Đào Tín xưa nói: "Số của trời đất là 55. Số 6 là số 6 mặt, cho nên giảm đi còn 49". Cách nói này tuy chưa chắ đã đúng với ý ban đầu, nhưng có thể nói rõ vấn đề, tức là do kết quả 55 trừ đi 6.
Nguồn gốc số của đại điện, vì sao phải bỏ đi một cây cỏ thì không dùng mà chỉ dùng 49 cây? Vấn đề này, ngày nay vẫn đang tìm tòi lời giải đáp.
Về việc bát quái là số của vạn vật, cũng là thông qua số đại điện để lấy quẻ (bói cỏ thi) mà ra. Cũng tức là cổ nhân đã dùng phương pháp chiêm bốc cỏ thi. Đây là phương pháp cổ nhất, hoàn chỉnh nhất còn lưu lại đến ngày nay. Nhưng cách tính của nó vô cùng phức tạp.
Sáu mươi tư quẻ, tất cả có 384 hào. Số hào dương có 192, hào âm cũng 192. Càn là lão dương, mỗi hào có 36 sách; khôn là lão âm, mỗi hào 24 sách.
Nên 36 sách x 192 hào = 6912 sách (càn)
24 sách x 192 hào =4.608 sách (khôn)
Cả hai số cộng lại (6.912 + 4.608 ) là 11.520 sách. Người xưa đã dùng số sách này đại điện để
nói lên số của thế giới vạn vật biến hoá thành.
VII. NGUYÊN, HANH, LỢI, TRINH
Trong quẻ từ và hào từ của "Chu dịch" bốn chữ: nguyên, hanh, lợi, trinh xuất hiện rất nhiều lần. Nếu khong hiểu nghĩa bốn từ này thì khó mà hiểu được lời văn của quẻ.
CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa
Bốn chữ nguyên, hanh, lợi, trinh có rất nhiều người chú giải. Gần đây ngài Cao Hanh đã chú giải bốn chữ này rất tỉ mỉ. Vì nội dung nhiều nên ở đây chỉ dựa theo những chương có liên quan của "Chu dịch cổ kinh kim chú" để giới thiệu vắt tắc cho mọi người tham khảo.
"Nguyên, hanh, lợi, trinh" là bốn đức tính của con người.
Nguyên: lấy nhân làm gốc, hanh: lấy rễ làm bản lề, lợi: lấy nghĩa làm cốt lõi, trinh: lấy sự chắc chắn, cố định làm chất". "Ý nghĩa đầu tiên của nguyên, hanh, lợi, trinh là: nguyên là to, hanh là hanh
lễ, lợi là lợi ích, trinh là chữ trinh trong trinh bốc.
1. Nguyên
1) Nguyên cát: nguyên cát là đại cát.
2) Nguyen hanh: nguyên hanh là đại hanh.
3) Nguyên phu: nguyên phu có tên là nguyên lão, nguyên hầu, nguyên nữ, đại phu.
2. Hanh
1) Hanh: hanh lợi, hanh cat, hanh trinh.
2) Tiểu hanh: tiểu hanh là người xưa cử hành tiểu hanh lễ.
3) Nguyên hanh: nguyên hanh tức là đại hanh.
3. Lợi
1) Không có cái gì không lợi: bói cỏ thi được quẻ này hoặc hào này thì việc đã làm rất có lợi.
2) Cái gì cũng có lợi: bói cỏ thi được quẻ này hoặc hào này thì việc gì cũng có lợi.
3) Lợi một mặt nào đó hoặc không lợi mặt nào đó hoặc đối với ai đó không có lợi.
4) Lợi trinh: việc đã làm là có lợi.
4. Trinh.
1) Trinh cát: việc định bói là việc tốt, việc nào đó hoặc người nào đó tốt.
2) Trinh hung: đều chỉ việc định bói là xấu, việc nào đó xấu, người nào đó xấu.
3) Trinh lịch: lịch là nguy. Việc định bói nguy hiểm.
4) Khả trinh: việc định bói là có thể làm hoặc không thể làm.
5) Lợit rinh: việc này có lợi, quẻ này có lợi.
VIII. CÁT, LẬN, LỆ, HỐI, CỮU, HUNG
Trong "Chu dịch" có các từ "cát, lận, lệ, hối, cữu, hung", không những là tiêu chí cát hung của
từ hào, từ quẻ mà cũng là mức độ nặng nhẹ khác nhau của cát hung. Chỉ có hiểu và nắm vững tiêu chí nặng, nhẹ của cát hung mới có thể dự đoán được chính xác. Dưới đây đưa ra một số giải thích theo lời bàn cảu ngài Cao Hanh trong "Kinh dịch cổ kinh kim chú".
1. Cát
1) Cát là thiện. Việc ấy có kết quả thiện, là cát, là tường phúc.
2) Sơ cát: Cát phân thành sơ cát, trung cát, chung (cuối) cát, là ba giai đoạn của sự việc.
3) Trinh cát: là chiêm cát, là đươc quẻ đoán cát.
4) Đại cát: Phúc tường rất to.
5) Nguyên cát: Nguyên cát cũng to giống đại cát.
2. Lận
CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa
1) Chữ lận trong "Chu dịch" là mượng chữ "lân". "Thuyết văn" nói: lận là khó làm, lận là khó.
Lận là chỉ việc khó làm, hoặp gặp việc gian nan.
2) Tiểu lạn: gặp phải tiểu nhân, khó khăn.
3) Chung lận: cuối cùng khó khăn, tận cùng vẫn khó.
4) Trinh lận: là quẻ bói gặp khó khăn.
3. Lệ
1) Chữ lệ trong "Chu dịch" là nguy, nghuy hiểm.
2) Hữu lệ: có nguy hiểm.
3) Trinh lệ: là việc trong quẻ có nguy hiểm.
4. Hối
1) Hối: hối hận về sau, ở vào thế khó khăn quẫn bức, lo lắng.
2) Hữu hối: thế khó khăn.
3) Hối hữu hối: do việc khó khăn dẫn đến khó khăn.
4) Vô hối: không khó khăn.
5) Hối vong: trước đây có hối, nay đã mất.
5. Cữu
Trong "Chu dịch", cữu nặng hơn hối nhưng nhẹ hơn hung. Hối là thế khó khăn nhỏ, nhẹ hơn, còn hung là tai ương to lơn, cữu là tai hoạn nhẹ.
1) Vi cữu: sẽ thành tai hoạn.
2) Phi cữu: "Phỉ" hàm ý "phỉ", chi cữu là không có tai hoạn.
3) Hà cữu: không dến nỗi tai hoạn.
4) Vô cữu: là không có tai hoạn.
6. Hung
Hung là ác, việc đó có kết quả là hung, là tai hoạ.
1) Hung: quẻ bói này hung, xấu.
2) Chung hung: việc ấy kết quả cuối cùng là hung.
3) Hữu hung: có tai ương.
4) Trinh hung: nói quẻ bói này hung.
Cát, lận, lệ, hối, cữu, hung có nghĩa là: cát thì phúc tường; lận là gian khó; lệ là nguy hiểm; hối
là khó khăn; cữu là tai hoạn nhẹ; hung là tai họa.
Chương 3
BÁT QUÁI VỚI KHOA HỌC HIỆN ĐẠI
"Chu dịch", là bộ sách bàn về lý, tượng, số, chiêm. Về hình thức và phương pháp giống như là một tác phẩm chuyên luận về âm dương bát quái. Nhưng thực chất là là dùng phương pháp bát quái
để dự đoán thông tin. Vấn đề cơ bản nhất của nó là dùng vũ trụ quan một phân làm hai và quy luật
đối lập thống nhất, là dùng phương pháp duy vật biện chứng, chỉ rõ quy luật tự nhiên của quá trình
CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa
phát triển, biến hóa giữa các sự vật trong vũ trụ. Nội dung của nó vô cùng phong phú, phạm vi đề cập
rất rộng, trên bàn thiên văn, dưới bàn địa lý, giữa bàn việc đời và con người, từ khoa học tự nhiên đến
xã hội, từ sản xuất đến cuộc sống, từ bậc đế vương trị quốc ra soa cho đến người dân phải làm người như thế nào. Tất cả đều được bàn một cách tỉ mỉ, thật là bao gồm khắp hết, không đâu không bàn đến. Ơ chương này chủ yếu sẽ nói rõ vì sao sách "Chu dịch" bị quy là mê tín phong kiến, mối quan hệ
của nó với khoa học là ở đâu và nói đã cống hiến cho nhân loại những gì.
I. VỀ VẤN ĐỀ "MÊ TÍN PHONG KIẾN" CỦA BÁT QUÁI
Xưa nay vẫn tồn tại hai cách nhìn khác nhau đối với bộ sách "Chu dịch". Loại ý kiến thứ nhất:
cho bộ sách này, dù từ dịch lý hay tượng số đều có giá trị quý báu về khoa học, là bảo vật của dân tộc Trung Hoa. Loại ý kiến thứ hai lại cho rằng bộ sách này xét về tổng thể mang màu sắc thần học, quỷ thần, tuy về quan điểm triết học và lịch sử, nó có giá trị thực tế nhất định. Họ cho rằng bát quái trong "Chu dịch" là một thứ "mê tín phong kiến", "duy tâm", "siêu hình". Cho nên trong lịch sử cũng xuât hiện cuộc tranh luận của "phái dịch lý" và "phái tượng số" với hai quan điểm khác nhau. Nhưng từ năm 1949 trở về trước xa xưa, người làm dịch lý chỉ bàn về phương diện thực tiễn. Từ sau đời Hán, nghiên cứu tượng số khá thịnh hành, đến đời Tống tợng số rất hưng vượng và đã có cống hiến to lớn
cho khao học dự đoán của Trung Quốc. Những nhân vật tiêu biểu cho thời kỳ này có Trần Bác, Chu
Hy, Thiệu Khang Tiết, v. v. ..
Từ sau 1949, việc nghiên cứu "Chu dịch" của Trung Quốc tuy bị ngừng lại, nhưng ngoài những tham luận có liên quan với Kinh dịch ra, phẩn nhiều đều nghiên cứu về mặt lịch sử và triết học. Còn
đối với bát quái thì cho rằng nó thuần là "mê tín phong kiến", "duy tâm, siêu hình", thành loại tư tưởng bị cầm, nhất là dùng bát quái để dự đoán thông tin về tự nhiên và con người càng bị cấm, không ai dám nói đến.
Sau năm 1984 việc nghiên cứu "Chu dịch" của Trung Quốc, đặt biệt là nghiên cứu tượng số cơ bản đã thay đổi. Mười năm lại đây tuy đã tốt hơn nhiều nhưng vẫn chưa được coi trọng đầy đủ, cho nên ngày 11 tháng 12 năm 1987 Nhân dân nhật báo đã báo tin về cuộc Hội thảo học luật "Chu dịch" quốc tế. Trong tin đó nói: "Việc nghiên cứu tổng hợp dịch lý và tượng số đã giành được những bước tiến to lớn trong khoa học liên ngành, trong nhiều tầng lớp, nhiều kênh, nhiều góc độ, nhất là xu thế
nổi bật trong nghiên cứu khoa học đa ngành". Điều đó làm cho cuộc tranh luận giữa hai phái "dịch
lý" và "dịch số" trong nghiên cứu "Chu dịch" trên hai nghìn năm ở nước ta và mấy thế kỷ gần đây của thế giới được giải quyết một cách tương đối tốt.
Nguyên nhân nói "Chu dịch" là "mê tín phong kiến", là "duy tâm, siêu hình" là ở mấy điểm
sau:
1. Vì trong sách "Chu dịch" có các chữ "thần", "quỷ", "tế lễ", "thiên hữu". Hơn hai nghièn năm
về trứơc sách "Chu dịch" đã ra đời, nếu yêu cầu tác giả lúc đó không có quan niệm thần quỷ là không khách quan. Cho nên, chúng ta đối với bộ sách này cũng nên như thế. Chúng ta không nên vì trong sách có chữ "quỷ", "thần" àm đã vội cho là nó tuyên truyền "mê tín", không đi sâu phân tích, đố không phải là thái độ khoa học. Ví dụ trong kho táng y học của nước ta, trong nhiều chương của "Hoàng đế nội kinh" đều đề cập đến các từ của chuyện quỷ thần, nhưng giới y học vẫn không cho rằng đó là mê tín phong kiến mà với thái độ khoa học sàng lọc nên đã góp phần thúc đẩy y học nước
CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa
ta phát triển nhanh chóng. Số từ quỷ thần ghi trong "Chu dịch" so với "Hoàng đế nội kinh" còn ít hơn
rất nhiều.
Các từ quỷ thần trong "Chu dịch" qua khảo sát, thống kê thì thấy: "Kinh Chu", tức, quẻ từ hào
từ của 64 quẻ không có chữ "thần", có ba chữ "quỷ", bảy chữ "tế lễ", "tự thiên hữu" và "thượng hữu" mỗi chữ có một chỗ. Trong "văn ngôn" hai chỗ có chữn "thần". Trong "Hệ từ" hai mươi chỗ có chữ "thần", hai chỗ có chữ "quỷ", hai chỗ có chữ "tự thiên hữu". Trong "Thuyết quái" hai chỗ có chữ "thần". Toàn sách hai mươi chỗ có chữ "thần", mười ba chỗ có chữ "tế lễ", năm chỗ có chữ "quỷ",
"tự thiên hữu" và "tự thượng hữu" mỗi chữ có năm chỗ. Đó là toàn bộ "tội chứng" mê tín phong kiến" của bát quái. Bây giờ ta thử xem qua chữ "thần", "quỷ" trong "Chu dịch" thực chất là thế nào.
1) Các chữ thần, quỷ trong "Chu dịch" nguồn gốc là ở chú thích của người đời sau. Sáu mươi tư quẻ trong "Chu dịch", bất kể là trong "quẻ từ" hay " hào từ", đều không có chữ thần nào, tuy có ba chữ "quỷ" trong các cầu "tải quỷ nhất xa", "Cao Tông phiệt quỷ phương" và "Chấn dụng phiệt quỷ phương" nhưng câu đầu chữ "quỷ" là hình dung từ, câu sau chữ "quỷ" là tên của một tộc (theo Thiệu
Vĩ Hoa: quỷ phương là một dân tộc ở biên giới đời nhà An, hoặc "quỷ phương" tức là một tộc thời An Cao Tông đã kịch chiến với nhà An. Nói một cách khác, sau này gọi quỷ phương là hung nô). Cho nên sáu mươi tư quẻ căn bản không phải là cái gì nói về thần, quỷ, hoặc là việc cầu thần hỏi quỷ.
Các từ "quỷ, thần" trong "Chu dịch" nguồn gốc là từ sách "thập dực" của người xưa. Nhưng các nhà chú giải "Dịch" ở các triều đại khi giải thích "quỷ thần" tuy có hai loại quan điểm khác nhau, nhưng đa số đều lầy "quỷ thần" để so sánh với sự biến hóa của hai khí âm dương.
Như trong cầu "Cố tri quỷ thần chi tình trạng" của "Hệ từ", chữ "quỷ" trong câu là chữ "quy", chữ "thần" là chữ "thân". "Thần vô phương, "dịch vô thể", ý của câu này nói quy luật biến hoá vô cùng thần diệu, cho nên chữ "thần" này không phải là quỷ thần.
Trong sáu mươi tư quẻ, có bảy chữ "tế lễ", trong đó có bốn chữ là nói đến việc tế lễ, nhưng không phải là của quẻ từ mà là hào từ, cà cũng không hải từ chính. Ví dụ "Hồ nại lợi dụng dược" tức
là vạch trần tội ác chủ nô ngày xưa dùng tù binh để làm tế vật.
Trong sách có một số việc "tế lễ", phần nhiều là cổ nhân gán cho bát quái. Như trong quẻ từ
của "quẻ chấn" vốn không có từ tế lễ, nhưng trong "tượng" khi giải thích đã thêm vào cầu: "khả dị
thủ tôn miếu xã tắc, dị vi tế chủ hạ" (có thể giữ tôn miếu xa tắc, lấy làm tế chủ vậy). Những trường hợp đại loại như thế quả thực đã làm căn cứ cho một số người đời nay phủ nhận bát quái là một khoa học.
2) Có nhiều "lý do" làm cho người đời nay gán cho "bát quái là mê tín". Kỳ quái nhất là người xưa và người nước ngoài đều thừa nhận bát quái là khoa học thì ngược lại tự chúng ta có một số người
lại kịch liệt phẩn đối. Biện pháp có hiệu quả nhất của họ là lợi dụng dịp chú thích để tìm cách phủ lên
cho bát quái một lớp màu sắc quỷ thần. Ví dụ trong "tượng truyện" của quẻ "khiêm" có một câu
"thần quỷ hại doanh nhi phúc liêm", Trình Di, nhà lý học nổi tiếng ngày xưa đã giải thích là "tạo hóa
chi tích", Ngô Phân theo quẻ tượng giải thích là "quỷ vị tứ, thần vị tam (chỉ hào ba, hào bốn) khôn vi quỷ hại, càn vi thần phúc". Trấn Địa Kinh triều Thanh là "mạn chiêu tổn, khiêm thụ ích", đều không phải chỉ việc của quỷ thầnmà gần đây có người chú là "thần đạo của câu này nói rõ khiêm thì hanh, không khiêm thù không hanh".
Lại còn hào thứ chín mươi lăm của quẻ "ký tế" có nói "đông lân sát ngưu, bất như tây lận chi
(dược) tế, thực thụ kỳ phúc" cổ nhân phần nhiều dều từ quẻ tượng mà giải thích. "Chu dịch tập giải"
cho rằng: chín mươi lăm là đông, sáu mươi hai là tây, khảm là thủy, lỵ là ngưu, thủy diệt hỏa vì sát
ngưu. Đông chỉ triều An, Tây chỉ triều Chu. Cho nên hào từ của hào này ý nói vương triều An phải
CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa
diệt vong, dùng sát ngưu để tế lễ quỷ thần vô cũng ích, triều Chu thuận với sự phát triển của lịch sử, được lòng người, dù không sát ngưu tế quỷ thần cũng vẫn hưng khởi. Cách dùng chữ "sát ngưu" ở đây không những là tỉ dụ mà còn nói lên một cách đầy đủ tư tưởng duy vật đơn giản của người xưa. Nhưng người đoài nay khi chú giải lại gán cho người xưa là mê tín, cầu thần bảo hộ.
Hay như hào từ chín mươi lăm của "quẻ dộn" nói: "Phì độn vô bất lợi". Ơ đây chữ "phì", ngày xưa là chữ "phi", cho nên "phì độn" có nghĩa là "cao chạy xa bay". Thế nhưng người nay cưỡng gán
cho "phì độn" là "phì đồn" (lợn béo) để nói thành ý tế thần.
2. Lý do thứ hai nói bát quái là mê tín phong kiến vì: khi bói quẻ phải cầu thàn dâng hương, tâm
có thành mới linh ứng.
Trong lời nói đầu của "Chu dịch thông nghĩa" nói: "Cổ nhân mê tín, gặp việc hồ nghi vẫn hay
cầu thần". Trong một số chú giải của "Chu dịch" có ghi cổ nhân khi bói cỏ thi, thì dâng cỏ lên làm nghi thức. Sau Triều Tống, có một số sách bàn về bói toán cũng đến trước khi bói phải đốt hương cầu quẻ. Tôi cho rằng những cách làm này vừa không phải là bản thân "Chu dịch" vốn có, càng không phải là "tôn chỉ" của "Kinh dịch", mà là cách làm huyền ảo của những người bói toná dẫn đến, không
thể cưỡng gán cho sáu mươi tư quẻ của "Chu dịch".
Trong hào từ quẻ "mông" có cầu: "sợ phệ cáo, tái tam độc, độc tắc bất cát. Lợi trinh". Xã hội ngày nay khi tiến hành dự đoán cũng chỉ có thể làm theo nguyên tắc này.
Vì sao khi đoán chỉ có thể lắc một lần quẻ mà không thể lắc lần thứ hai, lần thứ ba? Đó là vì khi
ta khất quẻ, lấy ba đồng tiền lắc, tiền là kim loại là từ tính, thân thể người ta cũng có từ trường, thông qua từ trường mà những thông tin cần dự đoán phải hồi vào đồng tiền để ứng vào quẻ. Nếu lắc lại lần
thứ hai, thứ ba thì do ý niệm của mình mỗi lần khác nhau nên lắc mạnh nhẹ khác nhau, làm cho thông
tin phản hội khác nhau. Do đó kết quẻ của các lần lắc khó mà giống nhau được. Như vây tức là ba lần
lắc là ba tượng quẻ, hào đọng của mỗi quẻ khác nahu, chủ sự việc khác nhau, cuối cùng lấy tượng quẻ nào làm chủ, người gieo quẻ không định đoạt được, cho nên người xưa căn cứ kinh nghiêm lấy quẻ đầu làm chủ và không lắc lần thứ hai, thứ ba nữa. Đó vốn là vấn đề nguyên tắc hoặc là phương pháp
lấy quẻ, nhưng có một số nhà sịch học không hiểu được phương pháp lấy quẻ này đã giải thích "sơ phệ cáo, tái tam độc, độc tắc bất cát" là : "nếu người bói cho rằng cỏ thi không chuẩn, lại lắc lại, tức
là phạm đến quỷ thần, quỷ thần sẽ không mách bảo nữa". Nói thế tức đã hoàn tàon hiểu sai. Sự hiểu nhâm này tất nhiên sẽ dẫn đến nhận thức sai.
Về cách nói "tâm thành tắc linh" trong một số sách cổ chính là cường điệu người xin quẻ lòng phải thành, lòng thành mơi có thể đoán được đúng. Cách nói ấy cũng làm cho bát quái trở thành cái
cớ mê tín.
"Tâm thành thì ứng nghiệm" thật ra không thuộc vấn đề mê tín. "Tâm thành" nói theo cách hiện nay là "ý nghĩ phải tập trung", tức là người đến hỏi việc phải tập trung sức chú ý vào việc muốn hỏi, từ đó thông tin qua tác dụng của từ trường thân thể mình, chuyền tin tức đến đồng tiền qua tay, như vậy mới phản ánh chính xác vào quẻ được. Nếu "ý niệm" của người xin quẻ không mạnh, tinh
lực không tập trung, suy nghĩ lung tung, thông tin sẽ bị nhiễu, không phản ánh chính xác vào tượng quẻ nên đoán sẽ không chuẩn. Điều này cũng giống như ta luyện khí công, khi "ý nghĩ" không tập trung việc tập sẽ không đưa lại hiệu quả. Ngày xưa còn nêu ra: không có việc không xem quẻ, không
bị ảnh hưởng không xem quẻ, không động không xem quẻ, không cần không xem quẻ, không khác thường không xem quẻ v. v. ... tấtc ả những cái đó đều thuộc phạm trù "ý nghĩ" và là vấn đề nguyên
tắc trong dự đoán.
CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa
3. Không ít người cho rằng: "Bát quái dự đoán cát hung là duy tâm, siêu hình". Những kẻ đố không hiểu biết khoa học về con người, họ phủ nhận cách nói con người có cát hung, họa phúc, cho nên họ mới nói bát quái đoán được cát hung, họa phúc của con người là duy tâm, là siêu hình".
Trong "Hệ từ" có nói: "Bát quái định cát hung, cát hung sinh đại nghiệp". Cát hung, họa phúc ở đây thực tế là vấn đề được và mất, thắng và bại.
Trời đất có sinh sát, vạn vật có bắt đầu và kết thúc, đế vương có hưng suy, nhân sự có cát hung.
Đó là quy luật phổ biến của thế giới. Vũ trụ là một đại thiên thể, con người là một tiểu thiên thể. Am dương ngũ hành vận động trong vũ trụ dẫn đến sinh khắc biến hóa, tự nhiên sẽ ảnh hưởng đến con người. Cho nên trong "Linh xu âm dượng nhị thập ngũ luận"nói: "thiên địa chi hợp, lục hợp chi nội,
bất ly ư ngũ, nhân tắc ứng chi" (hợp thiên địa, trong lục hợp không khỏi có năm, người nữa là sáu).
Do đó, người tất nhiên sẽ có cát hung, phúc họa. Nói tóm lại "thuận theo âm dương sẽ sống, ngược lại
thì chết; thuận thì trị, nghịch thì loạn" (Chương ba của tứ khí điều thần). Điều này đối với một người hay cả xã hội đều như thế cả.
Còn một số vấn đề chưa làm rõ trong bát quái, hoặc là những nguyên nhân gây ra cát hung cho
con người mà chưa được làm sáng tỏ, chúng ta chỉ có thể dùng thái độ khoa học, nghiên cứu sâu hơn chứ không thể dễ dãi cho rằng đó là "mê tín, siêu hình". Vì đó không phải là thái độ của người duy
vật và người khoa học cần có. Cuộc bàn luận về những chuyện quỷ thần, chung tôi tin là cùng với nhận thức ngày càng sâu sắc và nâng cao của con người, sẽ được nhận thức lại một cách đúng đắn.
II. BÁT QUÁI VÀ KHOA HỌC
Bát quái dùng làm gì? "Hệ từ" nói rõ: "Bát qúi địnhc át hung", "để định nghiệp thiên hạ". Cho nên bát quái, về văn có thể trị nước, võ có thể yên dân, trên có thể báo quốc, dưới có tác dụng giúp dân, giá trị khoa học của nó rất quý báu.
Trong bát quái càn là trời, khôn là đất, khảm là nước, ly là hỏa, chấnlà sấm, tốn là gió, cấn là núi, đoài là ao hồ, vốn là tám loại vất chất trong vũ trụ. Đem tất cả vật chất trog vũ trụ quy nạp thành
bát quái, điều đó tiểu biểu cho nhận thức của nhân loại về thế giới tự nhiên. Những điều dự đoán của sáu mươi tư quẻ cơ bản chia là ba loại:
Sản xuất vật chất, cuộc sống xã hội và nhận thức khoa học. Phạm vi bát quái ứng dụng trong khoa học rất rộng: nông nghiệp, thiên văn, địa lý, toán học, hóa học, quân sự, ngoại giao, nhân thể học, y học, sinh học, chính trị, kinh tế, triết học, văn học, luật học, dự đoán học, chọn giống, di truyền,
khí công, sử học, truyền tin. Tất cả đều có những mối quan hệ khăng khít và đã thu được thành tựu to
lớn trong ứng dụng bát quái. Để nói rõ tínhk hoa học của bát quái, dưới đây chúng tôi xin nêu văn tắt một số sự việc.
1. Bát quái với sử học: Mọi người đều biết, giới sử học đối với lịch sử và tình trạng xã hội từ
đời Chu về trước, trong một thời gian dài do thiếu các tư liệu văn bản và chứng vật nên không có cách
gì làm rõ được. Về sau nhờ phát hiện được nhiều di chỉ và mộ cổ ở cố đô, đào được hàng vạn giáp cốt. Trên những giáp cốt này, chữ khắc rất rõ ghi lại một lượng lớn chiêm bốc ở đời Chu và đời Chu
về trước. Trên cơ sở đó mà các nhà khảo cổ học, sử học mới dần dần làm rõ tình trạng lịch sử xã hội
đời Chu. Từ đó thấy rõ, hồi đó đã dùng bát quái để ghi lại sự thật lịch sử thật quý giá và chân thực
CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa
biết bao. Đồng thời, cũng chứng minh đầy đủ kỹ thuật, dự đoán bát quái hồi đó rất cao, kết quả chuẩn xác, cũng là điều hiếm thấy trong lịch sử đoán thông tin của thế giới.
2. Bát quái với toán học: Ở Trung Quốc muốn khảo chứng nguồn gốc của con số thì không thể nào bỏ qua được sách bát quái của Phục Hy. Có thể nói: Phục Hy là thủy tổ số học của Trung Quốc,
bát quái là một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh ra vạn vật tức bát quái là do số học cầu tạo nên hay nói cách khác, bát quái là biểu hiện của số.
Quẻ bát quái có số quẻ, hào có số hào, các con số xuyên suốt các quẻ trong bát quái. Ví dụ: càn
1, đoài 2, ly 3, chấn 4, tốn 5, khảm 6, cấn 7, khôn 8. Hai quẻ chồng nhau lại được một số mới, số ấy gọi là số quẻ.
Dưới đây ta tính số hào của mỗi quẻ nhị phân.
22 x 0 = 0 22 x 0 = 0
21 x 0 = 0 0 21 x 0 = 0 1
20 x 0 = 0 20 x 1 = 1
22 x 0 = 0 22 x 0 = 0
21 x 1 = 2 2 21 x 1 = 2 3
20 x 0 = 0 20 x 1 = 1
22 x 1 = 4 22 x 1 = 4
21 x 0 = 0
4 21 x 0 = 0 5
20 x 0 = 0 20 x 1 = 1
22 x 1 = 4 22 x 1 = 4
21 x 1 = 2 6 21 x 1 = 2 7
20 x 0 = 0 20 x 1 = 1
Tức là tính theo chế độ nhị phân ta có: ( ) 000, ( ) 100, ( ) 020,
( ) 120, ( ) 004, ( ) 104, ( ) 024, ( )124.
Nhà số học Đức (Lepbunixt) đã căn cứ vào bát quái của Trung Quốc mà phát minh ra máy tính làm chấn động giới khoa học cả thế giới, cho nên được gọi là "mẹ" đẻ ra máy tính.
Bát quái không những là nguồn gốc của số học, nó còn đồng thời với nguồn gốc chữ viết của
Trung Quốc. Tám phù hiệu của bát quái là chữ cổ của Trung Quốc. Điểm này đã được ghi lại tượng tận trong "lịch sử giáp cốt học"
3. Bát quái với y học: Ở Trung Quốc từ xa sưa đã có câu nói: "y dịch tương thông" (y học và dịch học liên quan nhau), tức là những người nghiên cứu dịch học của Trung Quốc đều lấy sách y học "Hoàng đế nội kinh" làm sách tham khảo chính. Ngược lại, những người nghiên cứu y học luôn lyấy "Dịch học" làm nguồn gốc của lý luận. Cho nên nguyên lý của bát quái đã sớm được dùng vào các lĩnh vực của y học. Nó đã cung cấp những luận cứ đầy tin cậy cho dự đoán bệnh, chuẩn đoán, dự phòng và điều trị. Bây giờ ta thử điểm qua bát quái phối với giải phẫu cơ thể người ra sao thì sẽ thấy
rõ.
CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa
Bát quái và thân thể:
Ngoại ngũ hành: càn là đầu, ly là mắt, khảm là tai, đoài là miệng, khôn là bụng, cấn là tay, chấn là chân, tốn là đùi.
Nội ngũ hành tức bát quái phối với ngũ tạng: càn, đoài là phổi, ly là tim, tốn là mật, chấn là gan, cấn là lá lách, khôn là dạ dày, khảm là thận.
4. Bát quái với sinh vật: Sáu mươi tư quẻ trong bát quái rất thống nhất với cầu tạo gen di truyền
đã được phát hiện trong nghiên cứu mật mã di truyền của sinh vật. Quyết định phân tử của cơ chế di truyền có hai loại: gọi tắt là DNA và RNA. Hai loại này có kết cấu giống nhau, đều có gốc axit phôtphoric và gốc kiêm cấu thành. gốc axit phôtphoric của DNA và RNA giống nhau, đều cùng loại, nhưng gốc kiềm có hai loại, mỗi loại lại nối với bốn gốc kiềm khác, nên hai loại nối với tám gốc kiềm.
Như vậy cứ mỗi nhóm ba DNA và RNA làm thành một mật mã di truyền, tám loại gốc kiềm mỗi lần lấy ba, trùng hợp lại sẽ thành 64 loại. Nó so với kết cấu của bát quái để hình thành 64 quẻ rất giống nhau.
Hạt nhân đường C4H4N2 dòn T
+ Gốc kiềm C4H4N2 bào C
thoát ôxy C5H4N4 đen G
Gốc axit C5H4N4 tuyến A
+ đường
Hạt nhân đường C4H4N2 amôniac U
+ Gốc kiềm C4H4N2 bào C
không thoát ôxy C5H4N4 đen G C5H4N4 tuyến A
5. Bát quái cũng có mối quan hệ với giáo dục tư tưởng phẩm chất: Ví dụ: quẻ "khiêm" có đưa ra đức khiêm tốn, cho rằng tính khiêm nhường phải lấy trí tuệ, siêng năng, nỗ lực làm tiền đề, không thể gắn khiêm nhường với hồ đồ, lười biếng, nhu nhược được. Đồng thời quẻ đó cũng nói "Khiêm tốn sẽ tiếp thu những điều có ích, ngạo mạn sẽ nhận được sự tổn thất". Đó chính là điều mà chung ta vẫn tuần theo xưa nay.
6. Bát quái với luật phát: Từ tượng quẻ của bát quái cũng như các điều dự đoán đã ghi chép lại
từ xa xưa, một mặt cho ta thấy Trung Quốc từ rất sớm đã có hình pháp, mặt khác bọn chủ nô, những người thống trị đã thao túng quyền sinh quyền sát, thiết lập những trại giam tàn khốc. Thí dụ như các quẻ : "khốn", "cách", "thiên lôi vô vọng", "thiên thủy tụng" đều bàn về pháp luật, giam cầm. Hình pháp ngày xưa có đánh đập, đấu tố trước quần chúng, cắt mũi, thích dấu lên trán, nhốt ngục, chặt đầu
v. v.. ..
trong quá trìh bọn thống trị xây dựng pháp luật cũng chú ý giáo dục yêu cầu mọi người tôn trọng pháp luật, chỉ rõ phạm pháp là do manh động; dạy mọi người làm việc tốt, lánh xa việc xấu. Như trong tượng quẻ, tượng từ có nói: "tích thiện chi gia tất hữu dư khánh, tích bất thiện chi gia tất hữu dư ương" (làm điều thiện sẽ có điều vui, làm điều ác sẽ gặp tai ương), "thiện bất tích, bất túc dị thành danh, các bất tích bất túc dị diệt thân" (không làm điều thiện thì không đủ để thành danh, không làm
CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa
điều các sẽ không đến nỗi bị tiêu diệt), "tội đại nhi bất khả giải" (tội lớn khó mà thoát được). Những điều trên là những lời dạy hay về pháp luật.
Trong thẩm vấn, để khỏi oan người tốt, bỏ qua kẻ xấu "Hề từ" có cầu: kẻ có tội, lời nói tỏ ra lo lắng. Người vong ơn bội nghĩa, lời nói hành động sẽ trái với thực tế, kẻ nói sai sự thật thường sợ người khác vạch trần. Cho nên khi nói năng lời nói của chúng tỏ ra lo lắng. Người lại, người thật thì lương thiện "người lành lời ít". Cách xem đoán người qua bề ngoài, qua ngôn ngữ hay thường vẫn rất có giá
trị.
Bát quái không chỉ có tượng quẻ về hình pháp mà trong nghiên cứu hiện đại về Kinh dịch, còn
có thể dùng bát quái để dự đoán thông tin về tội phạm và quan toà. Phát hiện này dùng để dự đoán
về bị giam cầm, dự đoán về tộị phạm và giảm thấp tội phạm đối với công cuộc xây dựng đất nước có một ý nghĩa rât to lớn.
7. Bát quái với khí tượng: Trong Kinh dịch bàn rất nhiều đến dùng bát quái để đoán khí hậu thời tiết. Ví dụ quẻ khôn, quẻ truân, quẻ trung phù ..., cả thảy có 16 quẻ chuyên nói đến các thông tin
về khí tượng. Nước ta dùng bát quái để đoán thời tiết đã được ghi lại rất nhiều trong giáp cốt văn. Trong "An khư khiết tiền tiên" có nói : "kỷ sửu bốc, canh vũ", "ất dục bốc, mão bính vũ". Chúng tôi
đã dùng bát quái để dự đoán thời tiết vùng Tây An bốn mươi sáu tháng, độ chính xác đạt 68, 16%, so
với đài khí tượng Thiểm Tây là hơi thấp, nhưng so với đài trung ương lại cao hơn. Nhưng Đài trung ương và Đài Thiểm Tây là hôm nay dự báo cho ngày mai, còn chung tôi là dự báo trước một tháng.
Cống hiến của bát quái về phương diện thiên văn cũng rất lơn. Ngài Lưu Tử Hoa khi còn lưu học ở Pháp năm 1940 đã từng dùng bát quái để dự đoán khối lượng, tốc độ và quỹ đạo của ngôi sao
thứ mười trong thái dương hệ nên đã giải quyết được một vấn đề làm chấn động cả thế giới mà hồi đó các nhà thiên văn học rất kho giải quyết.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét