Thứ Ba, 3 tháng 2, 2009

CHU DỊCH với DỰ ĐOÁN HỌC=Thiệu Vĩ Hoa (P6)

III. BÁT QUÁI VÀ KHOA HỌC (2)
8. Bát quái với quân sự: từ xưa đến nay, bát quái luôn được các nhà quân sự coi trọng và đã trở thành sách giáo khoa không thể thiếu được trong xây dựng và quản lý quân đội, trong chỉ đạo chiến tranh. Trong sáu mươi tư quẻ cũng bàn luận rất nhiều về quân sự. Ví dụ "sư", quẻ "đồng nhân", bàn
về chuẩn bị chiến tranh, đầu tiên nhấn mạnh cần phải có người chỉ huy tài đức song toàn, thông minh, tháo vát, nhấn mạnh quân đội phải có tổ chức và lỷ luật chặt chẽ mới có thể đánh thắng. Đối với thắng bại trong chiến tranh cũng phân tích rất tỉ mỉ.



Quẻ "phục" nói quân đội phải quen thuộc địa lý,địa hình, nếu không sẽ mất phương hướng. Quẻ "ly" bàn về cảnh giác với mọi người và đề phòng bọn địch giăng bẫy. Quẻ "tấn" bàn về chiến thuật chiến tranh, các quẻ khác bàn về chiến thuật phục kích, công đồn, phòng ngự, tiến công, tao ngộ chiến, đặc biệt chú ý cảnh giới, đề cao cảnh giác, phòng ngự liên hoàn, chủ trương hoà bình, phản đối xâm lược v. v. ... kiến thức quân sự rất phong phú.
Các nhà quân sự cổ đại như Tôn Tẫn, Gia Các Lượng v. v... đã vận dụng quân sự trong bát quái vào chỉ đạo chiến tranh và thu được nhiều thành tích to lớn. Cuốn "Trung Quốc sử giản biên" của Phàm Văn Lan đã ghi lại chuyên đề Gia Cát Lượng dùng bát quái để trị quân như sau: "Gia Cát Lượng trị quân đặc biệt coi trọng kỷ luật. Trong đó nổi tiếng nhất có Bát trận đồ. Hành quân phải theo đội ngũ, chú ý chỗ đóng quân, đồn luỹ, giếng bếp, chỗ vệ sinh, hàng rào đều phải xây dựng theo quy định, trên đường hành quân cũng phải sẵn sàng chuyển sang tấn công hoặc phòng thủ ngay.
Trước Gia Cát Lượng, Đỗ Hiến cũng đã dùng bát trận pháp đánh tan Bắc Hung nô, về sau Gia
Cát Lượng cải tiến thêm thành ra một hình thức mới. Mã Long đời Tây Tấn dùng bát quái trận pháp

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

thu hồi Lương Châu. Điêu Ung thanh đời Bắc Nguỵ đã dùng bát trận của Gia Cát Lượng để chống lại Nhu Nhiên. Lý Tĩnh nói với Đường Thái Tôn: "Lục hoa trận pháp nguyên là từ bát trận pháp. Gia Cát Lượng là người có cống hiến cho nền quân sự cổ xưa". Bát trận pháp, bát trận đồ nói ở đây chính là
lấy bát môn cửu cung của bát quái vận dụng vào các trường hợp quân sự điển hình.
Ngày xưa vận dụng bát quái vào quân sự, vào chiến tranh, ngày nayc ũng có thể làm điều đó. Nước Mỹ đã vận dụng bát quái vào chiến lược, chiến thuật tên lửa hạt nhân. Cũng có thể lấy từ quẻ "sư" củabq đã góp phần phát triển xây dựng quân đội nước ta, đó là cống hiến vĩ đại không thể phai
mờ được.
9. Bát quái với khí công: Trong "Hệ từ" có câu: "Nhất âm nhất dương chi vị đạo" bàn về quy luật vận động của hai khí âm dương, chỉ rõ quy luật phổ biến về sự vận động của sự vật. Trên kia đã nói: trời có âm dương, đất có âm dương, người có âm dương, trời đất vạn vật đều có âm dương, hai khí
âm dương vận động trong vũ trụ quyết định sự sinh trưởng biến hóa của vạn vật, phát triển và thúc đầy sự vật tiến lên. Vũ trụ là đại thiên thể, con người là tiểu thiên thể. Do đó sự vận động của các thiên thể và nhân thể co mối quan hệ mật thiết với nahu và đều chịu ảnh hưởng chung của đại thiên
thể vũ trụ này.
"Bảo mệnh toàn hình luận" nói: "Nhân sinh hữu hình, bất ly âm dương" (con người không tách khỏ âm dương) "Chu dịch tập giải" có câu: "Ban đầu âm dương giao hợp, cuối cùng âm dương chia thành vạn vật, hợp thì sinh tách ra thì tử". Y học hiện đại đã chứng minh, do sự vận động của khí đã đưa lại sự hoạt động của lục phủ ngũ tạng. Khí trong cơ thể người có âm, dương là một loại vật chất tinh vi có sức hoạt động rất mạnh. Nó lưu hành trong toàn thân, chỗ nào cũng có. Có sự sống hoạt động, về căn bản mà nói là có sự thăng, giáng, xuất, nhập của khí. Hoạt động của khí ngừng thì sự sống cũng dừng. Rất rõ ràng là, người sở dĩ bị bệnh là do mất cân bằng âm dương. Ta luyện khí công
là để thứ nhất hấp thụ khí của trời đất bổ sung cho mình, thứ hai là để tăng cường, duy trì trạng thái
cân bằng hai khí âm dương trong cơ thể. Bộ sách "Chu dịch tham đồng khiết", đã bao đời được tôn là
"Vạn thế đan kinh vương" chính là căn cứ vào "Chu dịch" để viết ra sách luyện công. Do đó thuyết âm dương trong bát quái là sách giáo khoa chỉ đạo luyện công.
Bây giờ lấy quẻ "thủy hỏa ký tế" để bàn: khảm là thủy, là thận; ly là hỏa, là tim. Sự thăng giáng của thận thủy và tim hỏa của cơ thể cũng giống sự thăng giáng hai khí âm dương của tự nhiên, vừa chế ước nhau lại vừa thống nhất với nhau. Thủy tính hàn, hỏa tính nhiệt, về sinh lý tâm hỏa giáng
sẽ ôn thận thủy, phong được thần hàn. Thận thủy thăng sẽ chế tâm hỏa, tâm quá nhiệt sẽ làm khô tạng phủ. Cứ thế quá trình hỗ trợ lẫn nhau của thủy hỏa gọi là tâm thận tương giao hay "thủy hỏa ký tế", cũng tức là cân bằng âm dương. Am dương cân bằng là sự sống ở trạng thái tốt nhất, tức "trạng thái khí công". Cho nên luyện công, vừa phòng bệnh, tăng sức khoẻ vừa kéo dài tuổi thọ, thậm chí có
thể đạt được những công năng đặc biệt.
10. Bát quái với hôn nhân: Trong bát quái không những đa ghi lại những phong tục hôn nhân
của xã hội nguyên thủy, những cuộc ngẫu hôn và cướp hôn, mà còn có phương pháp dự đoán và bàn
về cát hung của hôn nhân. Ví dụ quẻ "hàm" nói về nam nữ phối hôn chính thức, quẻ "Phong thiên tiểu súc" nói về "vợ chồng không hòa thuận", quẻ "cấn" nói về " người đàn bà không nên lấy" vì

người đó không đúng đắn. Quẻ "
truân" nói về cầu hôn, quẻ "khuê"
là đính hôn, quẻ "bôn" là
nghênh hôn. Tóm lại, dự đoán thông tin về hôn nhân, giúp cho xâyd ựng một gia đình hòa thuận, vừa
có lợi cho mình, vừa có lợi cho xã hội, đặc biệt để giáo dục bồi dưỡng đời sau rất có ý nghĩa.

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

11. Bát quái với phật giáo, đạo giáo: Phật giáo và các đạo gíao nước ta rất coi trọng nghiên cứu "Chu dịch". Vì trong các phù hiệu âm dương của bát quái, gọi dương là trời thần, âm là đất là quỷ. Phật giáo và đạo giáo cho rằng: dương là thần, âm là quỷ, người ở giữa âm dương nên vừa có
thể là thần, vừa có thể là quỷ. Nhưng thành thần hay thành quỷ đều có điều kiện, đó chính là điều mà đạo Phật yên cầu con người làm nhiều việc tốt, làm nhiều việc thiên. Người làm việc tốt, sau khi chết biến thành thuần dương thăng lên trời làm thần; người làm việc xấu, việc ác, hại người ích mình, sau
khi chết biến thành thuần âm xuống địa ngục làm quỷ. Tôi cho rằng các đạo muốn cho con người tốt, không làm việc xấu, không những có lợi cho xã hội, cho nhân dân mà còn phù hợp với đường lối chính trị của ta là muốn phục vụ nhân dân, muốn làm việc tốt cho nhân dân. Cho nên chúng ta ủng hộ Phật giáo và các sự nghiệp đạo giáo chân chính khác.
12. Bát quái với triết học: Phàm là người nghiên cứu triết học, không ai không cho rằng triết học bắt nguồn từ bát quái. Lý luận uyên thâm sâu xa của bát quái chính là bộ giáo khoa triết học sinh động, thực tế và là sách triết học kinh điển.
Các danh từ triết học "âm dương", "mâu thuẫn" chính là những tên hào cơ bản của bát quái. "Một chia thành hai" là "thái cực sinh lương nghi" của bát quái. Cho đến quy luật phát triển biến hóa
của sự vật, quy tắc đối lập thống nhất của mâu thuẫn, duy vật biện chứng pháp, tư duy lôgic, phương thức tư duy nhiều tầng, siêu hình và lý thuyết tương đối xuất phát từ bát quái hoặc có liên quan với
bát quái. Do đó bát quái dối với triết học cổ điển hay triết học hiên đại của nước ta đều có những đóng góp vĩ đại.
13. Bát quái với văn học: Từ quẻ, từ hào của bát quái đều có tư tưởng văn học và giá trị nghệ thuật cao sâu, đồng thời là bông hoa hông quý báu trong kho tàng văn học của nươc ta.
Từ hào và từ quẻ của bát quái về mặt thủ pháp văn chương và ngôn từ đều có một phong cách độc đáo. Chủ yếu thể hiện ở ba đặc điểm dưới đây.
Dùng phương pháp tỉ dụ, đố là đặc điểm thứ nhất của sáu mươi tư quẻ. Hào từ, hào quẻ đều dùng phương thức tỉ dụ để chỉ cát hung, họa, phúc. Đặc điểm thứ hai là hào từ, hào quẻ đều thể hiện phong cách thơ ca, đoàn ca, dân ca, ngụ ngôn một cách đậm đà, nội dung phong phú, màu sắc câu chuyện cô động. Đặc điểm thứ ba là câu ngắn gọn, điêu luyện, từ vvựng phong phú, miêu tả các nhân vật, sự vật rất sinh động, hình tượng xác thực, làm cho người đọc có cảm giác chân thực. Xưa nay những nhà văn, nhà thơ, tác gia, nhà viết kịch và những nhà báo nổi tiếng, trong tác phẩm của mình bao giờ cũng thấm đậm tư tưởng văn học của bát quái. Ví dụ chúng ta thường nói "đội trời đạp đất",
đó chính là "hào thượng, hào năm là trời, hào bốn hào ba là người, hào hai hào đầu là đất". Người ở giữa trời đất, trên đội trời dưới đạp đất, cho nên gọi là "đội trời đạp đât". Không ít tác phẩm của nước
ta như tiểu thuyết, thơ ca, kịch đều đưa độc giả đến những chương tiết bát quái đẹp đẽ và sinh động.
14. "Chu dịch" là đạo trị quốc: "Chu dịch" bàn về đạo trời, đạo đất, đạo con người và cũng bàn cả đạo trị quốc. Từ tư tưởng đến chính trị, từ kinh tế đến quân sự, từ công nghiệp đến nông nghiệp, từ văn hóa đến khoa học kỹ thuật, từ giáo dục đến pháp luật... nó đều bàn đến. Do đó "Chu dịch" trở thành cái gốc trị quốc của các triều đại nước ta, được nhà vua coi trọng. Trong lịch sử những nhà vua có công với đất nước, không chỉ bản thân thuộc "Chu dịch" mà còn dùng những người uyên thâm dịch lý, quái thuật cao siêu làm quân sự.
Chu Văn Vương tự giam mình trong phòng để diễn "Chu dịch", tôn Khương Tử Nha, người tinh thông dịch đạo làm quân sự; Tần Thủy Hoàng biết "Chu dịch" là sách trời nên không đốt; Lưu Bang xây dựng nhà Hán lấy Trương Lương, người thông hiểu "Chu dịch" làm quân sự, Đường Thái Tông

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

xây dựng được nhà Đại Đường là nhờ quân sư Từ Mậu Công. Gia Cát Lượng thời kỳ Tam Quốc, Lưu
Bá On đời Minh, đều là những người tinh thông dịch đạo, quái thuật cao siêu. Song cũng có những nhà vua không hiểu dịch lý, không có cách trị quốc, có nhà vua không nghe lời quân sư nên đưa đất nước đến suy bại, cách mạng bị tổn thất. Ví dụ Lý Sấm Vương không nghe lời Tống Hiếu Sách cách mạng giữa đường bỏ cuộc, biến thành bi kịch lịch sử.
"Chu dịch" đã có những cống hiến to lớn cho nền khoa học hiện đại của nước ta. Khoa học tự nhiên phát triển từ đầu đời nhà Tần đến nay có thể chia làm ba giai đoạn lớn, cũng gọi là ba đợt sóng triều phát triển của khoa học tự nhiên. Đợt thứ nhất lấy tượng số kết hợp với quan niệm chỉnh thể của "Chu dịch" làm đại biểu, đợt thứ hai lấy Galilê, Niutơn, Anh - Stanh làm đại biểu, lấy các máy đo và phân tích số hiệu làm đặc trưng; đợt thứ ba từ năm 1960 lại đây, được mở đầu bằng khoa học hệ thống, tiếp sau đó là sự ra đời của lý luận cơ cấu hao tán, lý thuyết hôn độn, hình học tán xạ, số học nhất nguyên hàm phân tích vật nguyên. Những lý luận học thuật và phương pháp này đều gắn bó mật thiết với tượng số của "Chu dịch" hoặc có những đặc điểm chung . từ năm 1960 lại đây, có tất cả mười bốn kết quả nghiên cứu khoa học quan trọng nhất làm chấn động thế giới, trong đó có mười hai
kết quả đạt được từ sau năm 1980. Điều vui mừng nhất là trong mười bốn thành tựu đó có chín mục do
các nhà khoa học Trung Quốc đạt được từ sau năm 1980. Trong những thành quả này có nhất nguyên hàm; phân tích vật nguyên, lý thuyết hỗn độn, thứ tự sinh ngẫu thiên địa, tuyến Luxtơxư cấu tạo địa chấn toàn cầu, cấu tạo huyệt kinh lạc địa cầu, nhịp địa cấn tự nhiên, chu kỳ tự nhiên, nhịp liên quan mật thiết với tượng số, có những cái hoàn toàn thống nhất với lý luận trong "Chu dịch". Ví dụ tư tưởng huyệt kinh lạc của địa cầu, ăn khớp một cách kinh ngạc với lý luận "Viện thủ chư thân, cận thủ
chư vật" trong bát quái. (mời tham khảo "Tự nhiên khoa học đệ tam lãng triều điều điều đạo lộ thông tượng số" (Đợt ba ngọn triều khoa học tự nhiên từng điều một có quan hệ với tượng số) của Lý Thụ Thanh.
Từ đó ta có thể thấy rõ, "Chu dịch" không phải là phong kiến mê tín, không phải là duy tâm, siêu hình mà là nguồn gốc và cơ sở của mọi khoa học.


Chương 4
BÁT QUÁI VÀ DỰ ĐOÁN THÔNG TIN

Bát quái bao la vạn tượng, không gì không có trong đó, là kho tin của nhân loại. Nhìn lên nó bàn thiên văn, nhìn xuống xét địa lý, ở giữa việc nhân sựu, xét cát hung tai họa cho người. Vậy đoán cát hung, tai họa trời đất và con người như thế nào? Hệ từ nói: "Để định cát hung cho thiên hạ, không có
gì khác ngoài cỏ thi và mai rùa". Người đời xưa dùng hai phương pháp và công cụ này để dự đoán thông tin. Nó báo cho mọi người muốn biết cát hung có thể dùng phương pháp dự đoán.
Người xưa coi trọng dự đoán, đó là vì "bát quái định được cát hung, cát hung sinh đại nghiệp". Như trên kia đã nói, cát hung chính là vấn đề được mất, thắng bại mà thôi.
Người ta có thói quen thế này, bất kỳ làm việc gì, nhiệm vụ gì, đầu tiên phải nắm tin tức. Ví dụ muốn mở nhà máy, cửa hàng, đầu tiên phải tổ chức điều tra, nghiên cứu, sau đó mới căn cứ tình hình điều tra để quyết định làm hay không. Tất cả những cái này đều thuộc vấn đề dự đoán thông tin. Do
đó dự đoán thông tin là cơ sở của vấn dề, là bước đầu tiên của mọi công việc, cũng là sự bảo đảm cho công việc thắng lợi. Chương này chủ yếu bàn về vấn đề liên quan đến dự đoán thông tin và phương pháp gieo quẻ.

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa



I. CƠ THỂ VÀ THÔNG TIN


Trên đây đã nói về tầm quan trọng của thông tin, bây giờ giới thiệu mối quan hệ giữa cơ thể với thông tin và phương pháp đang được dùng để dự đoán. Cơ thể tự nó đã là bộ cảm ứng tin tức. Nó khong những có công dụng dự đoán thông tin mà còn liên quan đến thông tin một cách tinh vi chặt chẽ. Ví dụ lấy cơ thể con người ra mà xét, da thịt phản ánh những thông tin như xa, gần, to, nhỏ, máu sắc, xấu đẹp, mũi phản ánh thơm thối, các mùi khác; miệng phản ánh vị; tai nghe âm thanh to nhỏ,
âm thanh gì, tóm lại là các thông tin về bên ngoài, bề mặt, cảm giác được, thấy được, các thông tin trong một phạm vi nào đó. Còn đối với những thông tin tinh vi, tiềm tàng, phức tạp, vượt quá phạm vi
bề ngoài thì da thịt trở thành bất lực, không cảm giác được.
Để tồn tại, loài người xuất phát từ những cảm ứng của thân thể, đã chế tạo ra các loại công cụ
để đo thông tin, từ đó mới thu được những tin tức cần thiết để bảo tồn minh. Ví dụ con người biết được thông tin đói rét nên mới mặc quân áo, ăn cơm, cho nên nông nghiệp mới ra đời. Có những vật xa quá, nhỏ quá, mắt thượng nhìn không thấy nên đã phát minh ra kinh viễn vọng, kính hiển vi, có những
tin tức cần truyền gấp, địa điểm cần truyền đến lại rất xa nên đã phát minh ra điện báo, điện thoại, truyền tin qua vệ tinh nhân tạo v. v. .... Tóm lại những công cụ dùng để dđ đoán thông tin hoặc truyền
tin ngày nay đang dùng đều bắt nguồn từ cảm ứng tin của cơ thể. Do đó Lênin nói: "Giả thiết cảm giác không làm cho con người có được một quan niêm chính xác đối với hoàn cảnh khách quan, thì người đó sẽ không thể thích nghi với hoàn cảnh được" (Lênin tuyển tập, trang 139, tập 14).
Phương pháp thư được thông tin ngày nay rất nhiều, đại để có:
- Thông qua giáo tiếp như: cử người điều tra, trinh sát, thăm dò.
- Thông qua báo chí; phát thanh, vô tuyến truyền hình, vệ tinh nhân tạo
Những tin tức thu được qua các công cụ này tuy rất tiên tiến, có thể là vĩ mỗ, có thể là vi mô, nhưng không phải là vạn năng. Vì bản thân điều kiện có hạn nên có những tin nó không thể thu được. Còn bát quái thì không cần mất tiên, cách xa hàng nghìn dặm vẫn có thể rất nhanh đoán ra. Cho nên
tổ tiên ta mấy nghìn năm trước đây đã phát minh ra bát quái để dự đoán thông tin thì quả là rất giỏi. Ngáy xưa đã dung bát quái đoán tin, thời đại thông tin ngày nay càng không thể thiếu được bát quái.


II. HỌC THUYẾT ÂM DƯƠNG


Học thuyết âm dương là nhân dân lao động Trung Quốc, thông qua quan sát các sự vật và hiện tượng mà chia mọi vật trong vũ trụ thành hai loại âm, dương. Từ đó xây dựng nên tư tưởng duy vật và biện chứng pháp thô sơ. Học thuyết âm dương cho rằng, tấtc ả mọi sự vật hình thành, biến hóa và phát triển đều do sự vận động cuẩ hai khí âm dương mà thành. nó tổng kết quy luật biến hóa âm dương của giới tự nhiên là thống nhất với tư tưởng triết học đối lập thống nhất. Học thuyết âm dương không những ứng dụng vào các lĩnh vực khoa học mà còn trở thành cơ sở lý luận thế giới quan duy vật biện chứng của khoa học tự nhiên nước ta.


1. Khởi nguồn của học thuyết âm dương
Học thuyết âm dương đã sớm hình thành từ đời nhà Hạ. Điều này có thể chứng minh bằng sự xuất hiện hào âm dương bát quái trong Kinh dịch. Trong bát quái, hào âm ( ) và hào dương (

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

) xuất hiện trong sách cổ "Liên sơn" đời Hạ; nên trng "Kinh sơn hải" có câu "Phục Hy được hà đồ, do
đó người Hạ gọi "Liêm sơn"; Hoàng đế được hà đồ, nên người Thương goị "Quy tàng"; Liết sơn được
Hà đồ do đó người Chu gọi "Chu dịch". Tức là nói, đời Hạ có sách bát quái "Liêm sơn", mà bát quái
là do hai hào âm dương cơ bản nhất cấu thành. cho nên học thuyết âm dương ra đời vào đời Nhà Hạ là điều chắc chắn.


2. Am dương đối lập
Am dương đối lập là nói vạn vật trong tự nhiên, bên trong nó đồng thời tồn tại hai thuộc tính ngược nhau, tức tồn tại hai mặt âm dương. Ví dụ bát quái là do hai loại ký hiệu đối lập âm dương hợp thành, cũng tức do bổn loại ký hiệu đối lập tổ hợp thành bát quái, do ba mươi hai ký hiệu tổ thành sáu mươi tư quẻ. Cho nên "Chu dịch càn tạc độ" nói rắng: "Càn khôn là căn bản của âm dương, là tổ tông
của vạn vật". Quẻ càn thuần dươn, quẻ khôn thuần âm, cho nên nói âm dương là hai loại mâu thuẫn
đối lập, là mâu thuẫn căn bản của tất cả mọi sự vật. Song, tuy mâu thuẫn đối lập nhưng càn khôn lại thống nhất với nhau. Nhờ có sự thống nhất này nên mới có sự biến hóa sinh thành vạn vật. Cho nên
sự đối lập và thống nhất của âm dương là có từ đầu chí cuối trong tất cả mọi sự vật.


3. Thuộc tính âm dương
Am dương không những thống soái hai mặt đối lập của vạn vật mà còn có thuộc tính khác ngược nhau. Trong bản chất và hiện tượng đều tồn tại hai mặt đối lập hàm chứa thuộc tính âm dương, vừa không thể tuỳ ý áp đặt, vừa không thể đổi cho nhau mà phải theo quy luật nhất đinh. Vậy dùng tiêu chuẩn nào để phân chia thuộc tính âm dương của sự vật và hiện tượng? "Hề từ" nói: "Càn đạo thành nam, không đạo thành nữ". Càn là cha, khôn là mẹ sinh ra chấn, cấn, khảm, tốn, ly, đoài sau con lại chia thành trai gái, tức trời đất sinh vạn vật, không có vật nào mà không mang hai thuộc tính.
"Hệ từ" còn nói: "Thiên tôn địa bỉ" (Trời sang đất hèn), "Càn là vật dương, khôn là vật âm" và "quẻ dương lẻ, quẻ âm chẵn". Phàm là giống nam, cao và lẻ đều thuộc phạm trù dương, phàm là nữ, thấp và mềm đều thuộc phạm trù âm.


4. Am dương là gốc của nhau.
Am dương là gốc của nhau có nghiã là trong sự vật hoặc hiện tượng hai mặt đó vừa đối lập nhau, vừa dựa vào nhau để tồn tại, có mối liên hệ lợi dụng lẫn nhau. Am và dương, cái này dùng cái
kia làm tiền để tồn tại của mình, tức là không có ấm, dương không thể tồn tại; không có dương, âm cũng không thể tồn tại. Đúng như không có càn thì không có khôn, không có trời, không có đất. "Tố vấn âm dương ứng tượng đại luận" nói : "âm ở trong, dương giữ lấy, dương ở ngoài khiến âm vậy".
Do đó âm dương dựa vào nhau tồn tại, tác dụng lẫn nhau.


5. Am dương tiểu trưởng
Am dương tiêu trưởng là nói trong sự vật và hiện tượng hai mặt đối lập nhau vậnd dộng biến hóa. Sự vận động của nó diễn ra dưới hình thức cái này yếu xuống thì cái kia mạnh lên. Do hai mặt
âm dương đối lập nên từ đầu chí cuối ở vào thế cái này yếu thì cái kia mạnh, nó luôn nằm trong trạng thái cân bằng động như thế mới duy trì được sự tăng lên, trăng lặn mặt trời lại mọc, cứ thế mà thay nhau. Lạnh đi nóng lại đến, hàn, thử cứ thế thay nhau theo năm tháng". Cái gọi là đi và đến chính là

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

yếu đi và mạnh lên. Nếu sự biến hóa này phát sinh khác thường cũng tức là phản ứng khác tường của
sự tiêu trưởng âm dương.


6. Am dương chuyển hóa
Am dương chuyển hóa tức là âm dương biến hóa, nó là hai mặt thuộc Tính khác nhau của âm dương trong sự vật. Dưới điều kiện nhất định cái này sẽ chuyển hóa sáng phía đối lập bên kia, "Hệ
từ" nói: "Am dương hợp đức thì cương nhu có hình". Am và dương đối lập nhưng lại dựa vào nhau, chỉ
có âm dương thống nhất lại mới có thể thúc đẩy sự vật biến hóa và phát triển như vậy âm dương mới
nói có thể cùng tồn tại lâu dài...
Am và dương tuy đều có hai loại thuộc tính khác nhau, nhưng lại có thể chuyển hóa lẫn nhau. "Luôn luôn sinh ra gọi là biến" "đạo có biến động nên gọi là bào". "Dịch" tức là âm dương cùng biến, tức là âm cực sinh dương, dương cực sinh âm, cho nên căn cứ âm biến thành dương, dương biến thành âm mà dương rong cửu sơ của càn ở dưới, âm trong lục sơ của khôn bắt đầu thay đổi. Điều đó
nói lên hai quẻ càn khôn đại diện cho sự mâu thuẫn âm dương lại thống nhất làm một. Hào sơ của
hai quẻ là âm dương kết hợp, âm dương bắt đầu chuyển hóa. Am dương chuyển hóa lẫn nhau là quy luật phát triển tất yếu của sự vật. Chỉ cần sự vật phát triển thuận theo quy luật âm dương biến hóa thì
cuối cùng sẽ đạt được mục đích sự vật chuyển hóa lẫn nhau.


III. HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH


Học thuyết ngũ hành cũng là sáng tạo độc đáo của nước ta. Tư tưởng triết học huy hoàng của nó
đã có tác dụng quan trọng thúc đẩy sự phát triển của sự nghiệp khoa học. Học thuyết ngũ hành cho rằng thế giới là do năm loại vật chất cơ bản nhất: mộc, thổ, hỏa, kim, thuỷ cấu tạo nên. Sự phát triển biến hóa của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên (bao gồm cả con người) đều là kết quả của năm loại vật chất này không ngừng vận động và tác dụng lẫn nhau. Phát hiện này đã tìm ra quy luật và nguyên nhân sinh sinh diệt diệt của vạn vật trong vũ trụ. Cho nên học thuyết ngũ hành cũng la chủ nghĩa duy vật và biện chứng pháp thô sơ. Học thuyết ngũ hành có công dụng rất rộng trên mọi lĩnh vực khoa học.


1. Khởi nguồn của học thuyết ngũ hành

Sự ra đời của học thuyết ngũ hành, trong giới học thuật vẫn còn là một vấn đề chưa được làm sáng tỏ. Ba loại ý kiên rất đối lập nhau như sau:
Giới dịch học cho rằng sự ra đời của học thuyết ngũ hành rất có khả năng đồng thời với học thuyết âm dương. Nhưng giới sử học lại cho rằng người đầu tiên sáng lập ra học thuyết ngũ hành làm Mạnh Từ. Trong cuốn "Trung Quốc thông sử giản biên" cảu Phạm Văn Lan đã nói: "Mạnh Tử là người đầu tiên sáng lập ra học thuyết ngũ hành, Mạnh Tử nói năm trăm năm tất có Vương Giả Hưng,
từ Nghiêu Thuấn đến Vu Thang là hơn năm trăm năm... Từ Văn Vương đến Khổng Tử lại hơn năm trăm năm... hầu như đã có cách nói tính toán về ngũ hành. Sau Mạnh Tử một ít, Trâu Diễn đã mở rộng thuyết ngũ hành trở thành nhà âm dương ngũ hành". Nói học thuyết ngũ hành do Mạnh Tử phát minh
là không có chứng cứ xác thực. Điều này chính Phạm Văn Lan đã tự phủ định mình. Trong cùng một chương của cuốn sách trên ông đã nói: "Mặc Tử không tin ngũ hành, bác bỏ thuật chiêm bốc dùng ngũ sắc thanh long để định cát hung, điều đó đủ thấy thời Đông Chu thuyết ngũ hành đã thông dụng

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

rồi, đến Trâu Diễn đặc biệt phát hay". Mạnh Tử là người nước Lỗ thời Chiến quốc mà thời Đông Chu
đã có ngũ hành ròi, rõ ràng không phải là Mạnh Tử phát minh ra ngũ hành. Có những sách sử nói, học thuyết âm dương ngũ hành là Đổng Trọng Thư đời hán sáng lập ra, điều đó càng không đúng.
Giới triết học như Vu Bạch Huệ, Vương Dung thì cho răng: "Văn bản công khai cảu ngũ hành
có thể thấy trong sách "Thượng Thư của Hồng Phạm (tương truyền văn tự những năm đầu thời Tây Chu, theo những khảo chứng cua người cận đại có thể là thời chiến quốc). Ngũ hành, một thủy, hai hoả, ba mộc, bốn kim, năm thổ; thủy nhuận dưới, hỏa nóng trên, mộc cong thẳng, kim là cắt đức, thổ
là nông gia trồng trọt" (xem "Anh hưởng của học thuyết âm dương ngũ hành với khao học truyền thống Trung Quốc"). Qua đó có thể thấy vấn đề nguồn gốc học thuyết ngũ hành vẫn là điều chưa sáng tỏ.


2. Đặc tính của ngũ hành

"Mộc" có tính sinh sôi, dài thẳng; "hỏa" rất nóng, hướng lên "thổ" là nuôi lớn, hóa dục; "kim"
có tính thanh tĩnh, thu sát; "thủy" là hàn lạnh, hướng xuống.
Học thuyết ngũ hành dùng phương pháp hình tượng để so sánh, lấy sự việc hoặc hiện tượng muốn nói chia làm năm loại, đem những sự việc hoặc hiện tượng tương tự quy về một trong năm ngũ hành và trên cơ sở thuộc tính của ngũ hành, vận dụng quy luật ngũ hành để giải thích, nói rõ mối liên
hệ và biến hóa giữa các sự vật, hiện tượng.


3. Ngũ hành sinh khắc

Học thuyết ngũ hành cho rằng, sự vật và giữa các sự vật tồn tại mói liên hệ nhất định, mối liên
hệ này thúc đẩy sự vật tiến hóa phát triển. Giữa ngũ hành tồn tại quy luật tương sinh tương khắc, do
đó sinh khắc chính là học thuyết ngũ hành dùng để khái quát và nói rõ quan điểm cơ bản mối quan hệ
và sự phát triển biến hóa giữa các sự vật.
Tương sinh có nghĩa là cùng bồi bổ, thúc đẩy, trợ giúp nhau. Tương khắc là chế ngự, khắc lại, khống chế nhau.
Ngũ hành tươn gsinh: mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc.
Trong tương sinh đều có mối quan hệ hai mặt: cái sinh ra tôi và cái tôi sinh ra. Cái sinh ra tôi là
cha mẹ; cái tôi sinh ra là con cháu; cái khắc tôi là quan quỷ; cái tôi khắc là thê tài; cái ngang vai với
tôi là anh em. Ví dụ ngày sinh thuộc can Canh kim. Thổ sinh kim nên mộc là cha mẹ của kim; hỏa khắc kim, hỏa là quan quỷ; kim khắc mộc, mộc là thê tài của kim; kim sinh thủy nên thủy là con cháu
của kim; kim là và kim cùng loại nên gọi là ngang vai anh em. Thê tài đối với nam mà nói vừa đại diện cho tiền tai, vừa đại diện vợ; quan quỷ đối với nữ mà nói vừa là quan tinh, vừa là chồng.
Tương sinh, tương khắc giống như âm dương, là hai mặt không thể tách rời của sự vật. Không có sinh thì sự vật không phát sinh và trưởng thành được, không có khắc thì không thể duy trì được sự cân bằng và điều hoà trong sự phát triển và biến hóa của sự vật. Cho nên không có tương sinh thì không
có tương khắc, không tương khắc cũng không có tương sinh. Mối quan hệ trong sinh có khắc, trong khắc có sinh, tương phản tương thành, dựa vao fnhau này đã duy trì và thúc đẩy sự vật phát triển, sinh trưởng bình thường và không ngừng tiến hóa.
4. Ngũ hành quá thừa

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa
Vật thịnh cực là quá mức. Phàm vật cực thịnh thì thừa, mạnh mà có mầm yếu. Đó gọi là thừa. Vật cực thịnh thái quá luôn luôn dễ gẫy, như ngọc cứng dễ vỡ, sắt cứng dễ gãy, đều là lý do này.


5. Phản ngược của ngũ hành

Trong ngũ hành sinh khắc, không chỉ khắc theo chiều thuận như vượng khắc suy, mạnh khắc yếu
mà có lúc cũng xuất hiện sự xung khắc ngược lại: suy khắc vượng, yếu khắc mạnh... Như thổ vượng thì mộc suy, mộc bị thổ khắc; mộc vượng kim suy, kim bị mộc khắc; thủy suy hỏa vượng, thủy bị hỏa khắc; thổ suy thủy vượng, thổ bị thủy khắc; kim vượng hỏa suy, hỏ bị kim khắc. Sự khắc ngược này
gọi là phản ngược.


IV. THIÊN CAN


Mười thiên can và mười hai địa chi. "Sử ký" gọi thập can, là mười mẹ thập nhị là mười hai con, còn gọi tắt là can chi.
Xét về lích sử phát triển, đại thể đầu tiên phát minh ra thập can, sau đó là thập nhị chi, rồi tiếp nữa mới tiếp phát minh ra giáp, Tý. Từ 1600 đến 1562 trước Công Nguyên thời kỳ nhà Thương, An đã
có can chi giáp Tý. Thập can đầu tiên được dùng vào đế hiệu thế hệ vương triều nhà Thương, như
Thành Thang có tên Thiến At, con của ông gọi là đại Đinh, trung Bính, trung Nhâm, cháu có tên là
đại Giáp... "Đại Nhiễu bắt đầu lấy giáp ất là tên ngày, gọi là can, lấy tý sửu làm tên tháng, gọi là chi" (Xem "Học thuyết vận khí"). Điều đó nói lên sự ra đời của can chi có quan hệ mật thiết với lích pháp.
Ví dụ quẻ từ bốn mươi bốn quyển bảy của sách. "An hư thư khiết tiền biên" nói "ất mão bốc, dục
bính vũ", "tân hợi bốc phục, dục nhâm vũ" đều nói lên thập can là ghi ngày.


1. Thập thiên can

Giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quý.


2. Cách chia âm dương của thập thiên can

"Tố vấn nhập thức vận khí luận áo , luận thập can" nói: "Giáp, bính, mậu, canh, nhâm là dương;
ất, đinh, kỷ, tân, quý là âm, ngũ hành cách một âm lại một dương, nên gọi là 10 ngày".
Giáp vì sao lại thuộc dương, ất vì sao thuộc âm (những can khác cũng thế)? Một là vì cái đọc trước là cứng là dương, hai là số lẻ là dương, nên giáp là dương. Giáp ở trước, ất ở sau, giáp số lẻ, ất
số chẵn nên ất là âm.


3. Ngũ hành của thiên can

Giáp ất đồng thuộc mộc, giáp là dương mộc, ất là âm mộc; Bính đinh đồng thuộc hỏa, bính là dương hỏa, đinh là âm hỏa; Mậu kỷ đồng thuộc thổ, mậu là dương thổ, kỷ là âm thổ; Canh tân đồng thuộc kim, canh là dương kim, tân là âm kim; Nhâm quý đồng thuộc thủy, nhâm là dương thủy, quý là
âm thủy.


4. Phương vị của thiên can

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa
Giáp ất phương đông mộc, bính đinh phương nam hỏa, mậu kỷ trung ương thổ, canh tân phương tây kim, nhâm quý phương bắc thủy. đông.
5. Thập can phối năm mùa Giáp ất thuộc xuân, bính đinh thuộc hạ, mậu kỷ trưởng hạ, canh tân thuộc thu, nhâm quý thuộc
6. Thập can phối ngoại ngũ hành, nội ngũ haàn

1) Thập can phối thân thể
Giáp là đầu, ất là vai, bính là trán, đinh là răng lưỡi, mậu kỷ là mũi mặt, canh là gân, tân là ngực, nhâm là bắp chân, quý là chân
2. Thập can phối tạng phủ:
Giáp là mật, ất là gan, bính ruột non, đinh tim, mậu dạ dày, kỷ lá lách, canh ruột già, tân phổi, nhâm bàng quang, quý thận. Số lẻ là phủ, số chẳn là tạng.


7. Thập can hóa hợp

Giáp và kỷ hợp hóa thổ, ất và canh hợp hóa kim, bính và tân hợp hóa thủy, đinh và nhâm hợp hóa mộc, mậu và quý hợp hóa hỏa.
Thập can hóa hợp là do phương vị của hai mươi tám thiên thể quyết định. Ví dụ "khí đen của
trời là đi qua sao Vĩ, Kỷ chia thành "tức khí thổ của ngũ hành trên thiên thể khi đi qua bốn trạm tân,
vĩ, giác, chẩn, trong thập can tương ứng với phương vị giáp kỷ, do đó gặp năm giáp, năm kỷ thì khí tượng thuộc thổ làm chủ sự vận hành. (Những cái khác xin xem trong "vận khí học thuyết"). Trong tứ
trụ nếu gặp thiên can giáp, kỷ thì là hóa thổ. Sự hóa hợp cát hung của nó giống như tam hợp của mười
hai chi.


V. ĐỊA CHI


Mười hai địa chi là tên của tháng, cho nên trong "Nhĩ nha, thích thiên" có câu: "Năm âm: tý sửu dần mão thìn tỵ ngọ vị thân dậu tuất hợi".


1. Am dương của mười hai chi

Tý, dần, thìn, ngọ, thân, tuất là dương
Sửu, mão, tỵ, mùi dâu, hợi là âm.
2. Thập nhị chi phố ngũ hành

Dần mão thuộc mộc, dần là dương mộc, mão là âm mộc;
Tỵ ngọ thuộc hỏa, ngọ là dương hỏa, tỵ là âm hỏa;
Thân dậu thuộc kim, thân là dương kim, dậu là âm kim;
Tý hợi thuộc thủy, tý là dương thủy, hợi là âm thủy;
Thìn tuất sửu mùi thuộc thổ, thìn tuất là dương thổ, sửu mùi là âm thổ

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

3. Thập nhị chi phối phương vị

Dần mão phương đông mộc, tỵ ngọ phương nam hỏa, thân dậu phương tây kim, hợi tý phương
bắc thủy, thìn tuất sửu mùi bốn mùa thổ. Thìn tuất sửu mùi ở tháng cuối của mỗi quý cho nên là bốn mùa thổ.


4. Mười hai chi phối bốn mùa

Dần mão thìn là xuân, tỵ ngọ mùi là hạ, thân dậu tuất là thu, hợi tý sửu là đông.


5. Mười hai chi phối tạng phủ

Dần là mật, mão là gan, tỵ là tim, ngọ ruột non, tuất thìn dạ dày, sửu mùi lá lách, thân ruột già, dậu phổi, hợi thận, tý bàng quang.


6. Lục hợp hóa hợp của thập chi

Tý và sửu hợp hóa thành thổ, dần và hợi hợp hóa thành mộc, mão và tuất hợp hóa thành hỏa, thìn và dậu hợp hóa thành kim, tỵ và thân hợp hóa thành thủy, ngọ và mùi hợp, ngọ thành thái dương, mùi thánh thái âm, hợp với nhau thành thổ.
Sự vận dụng lục hợp của mười hai chi, thứ nhất là dùng trong tứ trụ, tức năm tháng ngày giờ sinh
sắp xếp trong thiên can địa chi. Ví dụ năm tháng ngày giớ sinh trong địa chi có tý và sửu, tức là tý và sửu hợp, có hai chi dần và hợi tức là dần và hợi hợp. Cái tương hợp với nhau là tốt.
Tương hợp lại chia ra: trong hợp có khắc, trong hợp có sinh. Trong hợp có khắc thì trước tốt sau xấu, trước nóng sau lanh, trước hợp sau phân. Có cặp vợ chồng hoặc bạn hữu, ban đầu rất tốt, về sau
cãi nhau ly hôn, hoặc quan hệ bạn bè tan vỡ, chính là vì trong tứ trụ đã có những tiêu chí thông tin trong hợp có khắc. Như tý hợp với sửu, mão hợp với tuất, tỵ hợp với thân, tý là thủy, sửu là thổ, thổ khắc thủy; mão là mộc, tuất là thổ, mộc khắc thổ; tỵ là hoả, thân là kim, hoả khắc kim. Như thế gọi là trong hợp có khắc
Trong hợp có sinh là cho dù quan hệ vợ chồng hay giữa người với người càng hợp càng tốt, ngày càng tốt. Đó cũng là trong tứ trụ đã có những tiêu chí thông tin trong hợp có sinh. Ví dụ dần hợp với hợi, thìn hợp với dậu, ngọ hợp với mùi, dần là mộc, hợi là thủy, thủy sinh mộc, thìn là thổ, dậu là kim,
thổ sinh kim, ngọ là hỏa, mùi là thổ, hoả sinh thổ. Cho nên gọi trong hợp có sinh.
Sự vận dụng lục hợp của mười hai chi, thứ hai là dùng vào trong sáu hào của bát quái. Cách dùng của nó giống như trên, ở các chương 7, 8, 9, 10 của phần hai sách này sẽ bàn đến.


7. Mười hai chi tam hợp cục

Thân tý thìn hợp thành thủy cục, hợi mão mùi hợp thành mộc cục, dần ngọ tuất hợp thành hỏa cục, tỵ dậu sửu hợp thành kim cục. Tam hợp hóa cục có cát có hung. Cái hóa sinh thành cát, cái hóa khắc thành hung. Dưới đây cử vài ví dụ:
Hóa sinh: Giả thiết có một người sinh năm canh thân, tháng ất dậu, ngày giáp thìn giờ giáp tý.
Trong tứ trụ kim vượng, mộc nằm ở tử địa, chi ngày là thìn thổ lại khắc giờ tý là thủy, can ngày là giáp mộc và can tháng là ất mộc, can giờ là giáp mộc lại khắc chứ không có sinh nên là hung. Nhưng trong tứ trụ có thân tý thìn hợp thành thuỷ cục, lại được năm canh là kim, tháng dậu là kim sinh thủy,

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

nên có điều mừng là thủy sinh mộc, tức duy bị khắc nhưng được cứu. Điều đó gọi là thân tý thìn hợp
thủy cục hóa sinh là cát.
Hóa khắc : Giả thiết có người sinh năm canh than, tháng mậu Tý, ngày bính ngọ, giờ nhâm thìn.
Trong tứ trụ thủy vượng, can ngày là bính hỏa ở tử địa, lại còn bị thủy vượng trong tứ trụ khắc nên trở
thành đại hung. Hơn nữa trong tứ trụ lại còn có thân tý thìn hợp thành thủy cục nên lại càng kắhc
mạnh thêm can ngày bính hỏa (ngọ cũng thế). Bính hỏa có khắc vô sinh, bị khắc không được cứu, tức
là đã hung càng thêm hung. Đó gọi là tam hợp hóa khắc trở thành hóa hung cục.


8. Mười hai chi tương xung

Tý ngọ tương xung, sửu mùi tương xung, dần thân tương xung, mão dậu tương xung, thìn tuất tương xung, tỵ hợi tương xung. Tương xung thực chất là xung khắc nhau. Như trên hình bát quái có thể thấy rõ, mão là mộc ở phương đông, dậu là kim ở tây, ngọ là hỏa ở nam, tý là thủy ở bắc, các chi khác cũng thế, đều ở trên những phương đối nhau, cho nên là đối xung. Tương xung nghĩa là tương khắ. Nếu trong tứ trụ mà gặp thì không cát. Trong sáu hào gặp xung có cát hung. Cái mà xung mất thần phúc là hung, cái mà xung mất thần khắc là cát.
Giả thiết có người sinh năm bính ngọ, tháng canh tỵ, ngày đinh mão giờ kỷ dậu. Trong tứ trụ có
tý ngọ tương xung, mão dâu tương xung; đó là tượng không tốt. Tương xung có gần kề mà xung, lại có cách ngôi mà xung. Gần kề mà xung thì đại hại, cách ngôi mà xung thì hại nhẹ. Như thế là vì gần kề xung lực mạnh, cách ngôi xung lực nhẹ.


9. Mười hai tương hại

Tý mùi tương hại, sửu ngọ tương hại, dần tỵ tương hại, mão thìn tương hại, thân hợi tương hại, dậu tuất tương hại.
Tương hại là chịu hại, bị hại tức là tương khắc. Giả thiết có người sinh năm bính thân, tháng ất mùi, ngày mậu tý, giờ đinh tỵ. Như vậy trong tứ trụ có tý mùi tương hại. Tương hại đương nhiên không
tốt nhưng còn chia ra có chế và không chế. Có chế thì không phương hại gì, không chế sẽ bất lợi.


10. Mười hai chi tương hình (phạt)

Tý phạt mão, mão phạt Tý, đó la hình phạt vô lễ; dần phạt tỵ, tỵ phạt thân, thân phạt dần, đó là hình phạt đặc thế (tức do có quyền thế mà bị phạt); sửu phạt mùi, mùi phạt tuất, tuất phạt sửu là vì
vong ân mà bị phạt. Thìn ngọ dậu hợi là tự phạt.
Hình là hình phạt vậy. Phần nhiều chủ về việc hình sự phạm pháp, cũng chủ về bị thương, bệnh
tật. Phàm người trong tứ trụ thấy có cái không cát thì bản thân nên sống có kỷ luật, tôn trọng pháp luật, không làm việc xấu cũng thoát được cái nạn của hình địch, thậm chí dù bệnh nhiều mà cố gắng
đề phòng, kiên trì tập luyện có thể giảm được nổi lo về bệnh.
Phàm trong tứ trụ có hai chi tý mão (cái khác cũng thế) là "hình phạt của vô lễ" tức do vô lễ mà
tạo thành phạm pháp hoặc sinh tai họa. "Hình phạt đặc thế" là vì nắm quyền bính, có thế lực, làm ẩu làm bậy, ức hiếp người khác mà dẫn đến phạm pháp hoặc tai họa. "Vong ân mà bị phạt" là chịu ơn nhưng không báo đạp, ngược lại còn làm hại ân nhân hoặc sát hại ân nhân nên bị tù tội. "Tự phạt" là
tự mình muốn đạt ân mưu nào đó nên gây ra tội phạm.

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa

11. Ngũ hành trường sinh đế vượng

Mộc trường sinh ở hợi, đế vượng ở mão, tử ở ngọ, mộ ở mùi. Hỏa trường sinh ở dần, đế vượng ở ngọ, tử ở dậu, mộ ở tuất. Kim trường sinh ở tỵ, đế vượng ở dậu, tử ở tý, mộ ở sửu.
Thủy thổ trường sinh ở thân, đế vượng ở tý, tử ở mão, mộ ở thìn.
Khi vận đến được đất trường sinh đế vượng, chủ nhân có sáng tạo, có tin vui như được thêm tiền, sinh con hoặc thăng chức. Khi vận đến tử mộ thì chủ nhân cốt nhục phân ly, hoặc tai họa. Trường sinh đế vượng này là căn cứ tượng quẻ mà đoán.


12. Tứ phế

Xuân: canh thân, tân dậu; hạ: nhâm tý, quý hợi. Thu: giáp dần, ất mão; đông: bính ngọ, đinh tỵ.
Đây là chỉ hào, quẻ của tứ trụ mà nói.


13. Vượng, tướng, hưu, tù của ngũ hành

Xuân mộc vượng, hỏa tướng, thổ tử, kim tù, thủy lưu. Hạ hỏa vượng, thổ tướng, kim tử, thủy tù, mộc hưu. Thu kim vượng, thủy tướng, mộc tử, hỏa tù, thổ hưu.
Đông thủy vượng, mộc tướng, hoả tử, thổ tù, kim hưu.
Phàm quẻ gặp như thế thì đều chị như thế. Ví dụ mùa xuân gieo được quẻ chấn, chấn là mộc tức quẻ vượng, cát; nếu gieo được quẻ khôn, khôn là thổ, là tử địa, không cát.


14. Mười hai chi phối nguyệt kiến.

Tháng giêng kiến dân, tháng hai kiến mão, tháng ba kiến thìn, tháng tư kiến tỵ, tháng năm kiến ngọ, tháng sáu kiến mùi, tháng bảy kiến thân, tháng tám kiến dậu, tháng chín kiến tuất, tháng mười
kiến hợi, tháng mười một kiến Tý, tháng mười hai kiến sửu. Cho nên một, hai là mộc; bốn năm là hỏa; báy tám là kim; mười, mười một là thủy; ba, sáu, chín mười hai là thổ. Tháng giêng kiến dần là
vì tháng giêng là tháng dần, là chuôi sao bắc đẩu ghi ở ngôi đầu.


15. Mười hai chi phối với mười hai giờ.



Giờ Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ





Thời gian
23 - 1 1 - 3 3 - 5 5 - 7 7 - 9 9 - 11





Giờ Ngọ
Mùi
Thân
Dậu Tuất Hợi

CHU DỊCH với DỰ ĐÓAN HỌC - Thiệu Vĩ Hoa www.tuviglobal.com 65


Thời gian 11 - 13 13 - 15

15 - 17

17 - 19 19 - 21 21 - 23




16. Mười hai chi phối với mười hai loại động vật và số chi




Hợi
Sửu Dần Mão
Thìn Tỵ
Ngọ
Mùi
Thân
Dậu Tuất




Chuột Trâu Hổ Mèo Rồng Rắn Ngựa Dê Khỉ Gà Chó Lợn


1 2 3
4 5 6 7 8
9 10 11 12

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét